“Importantly, these protective associations were consistent across the full spectrum of cirrhosis causes, including viral hepatitis, alcoholic liver disease, and nonalcoholic steatohepatitis, and remained robust after multivariable adjustment” (tạm dịch: “Đáng chú ý, mối liên hệ bảo vệ này nhất quán trên mọi căn nguyên xơ gan, bao gồm viêm gan virus, bệnh gan do rượu và viêm gan thoái hóa mỡ không do rượu, đồng thời duy trì vững chắc sau khi hiệu chỉnh đa biến”), TS. Chi-Jung Chung (Đại học Y khoa Trung Quốc, Đài Trung, Đài Loan) cùng các cộng sự công bố trên tạp chí JAMA Network Open.
Nhóm nghiên cứu nhận định thêm: “By interrupting key metabolic and hemodynamic pathways underlying [type 2 diabetes] and liver disease, SGLT2 [inhibitors] may offer meaningful clinical benefits for this high-risk population. Prospective studies are warranted to confirm these findings.” (tạm dịch: “Bằng cách can thiệp vào các cơ chế chuyển hóa và huyết động then chốt tiềm ẩn trong đái tháo đường típ 2 và bệnh gan, thuốc ức chế SGLT2 có thể mang lại những lợi ích lâm sàng thực chất cho quần thể người bệnh nguy cơ cao này. Cần có thêm các thử nghiệm tiến cứu để xác thực những phát hiện trên”).
Các tác giả nhấn mạnh mối liên hệ hai chiều mật thiết giữa đái tháo đường típ 2 và xơ gan: khoảng 31% bệnh nhân xơ gan có đái tháo đường típ 2 phối hợp, và người bệnh đái tháo đường có nguy cơ tiến triển thành xơ gan cao gấp đôi so với quần thể chung. Tình trạng đồng mắc này dẫn đến “substantially worse outcomes” (tạm dịch: “tiên lượng xấu hơn rõ rệt”) so với khi chỉ mắc đơn lẻ từng bệnh.
Do bệnh nhân mắc bệnh gan tiến triển thường bị loại trừ khỏi phần lớn các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trong lĩnh vực đái tháo đường, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khai thác Cơ sở dữ liệu Nghiên cứu Bảo hiểm Y tế Quốc gia Đài Loan trên các bệnh nhân trưởng thành mắc cả đái tháo đường típ 2 và xơ gan. Nhóm đã xác định được 38.743 bệnh nhân phù hợp bắt đầu sử dụng thuốc ức chế SGLT2 hoặc thuốc ức chế DPP-4 trong khoảng thời gian từ tháng 5/2016 (thời điểm ức chế SGLT2 bắt đầu được cấp phép lưu hành tại Đài Loan) đến tháng 12/2023.
Sau khi áp dụng tiêu chuẩn loại trừ các đối tượng có tiền sử ung thư, bệnh thận giai đoạn cuối (ESKD), bệnh thận mạn (CKD) giai đoạn IV hoặc V trước ngày chỉ số, cũng như những bệnh nhân đã từng dùng nhóm thuốc ức chế SGLT2 hoặc DPP-4 trong vòng 12 tháng trước đó, mẫu nghiên cứu còn lại 24.259 bệnh nhân. Độ tuổi trung bình của đoàn hệ là 64,7 tuổi; 66,1% là nam giới; phần lớn (60,1%) được chỉ định thuốc ức chế DPP-4 và 39,9% sử dụng thuốc ức chế SGLT2.
Nhìn chung, nhóm sử dụng thuốc ức chế SGLT2 có độ tuổi trẻ hơn, tỷ lệ nam giới và rối loạn lipid máu cao hơn so với nhóm dùng ức chế DPP-4; ngược lại, tỷ lệ mắc bệnh mạch máu não, viêm gan C, đột quỵ và hạ đường huyết ở nhóm này lại thấp hơn. Bệnh nhân dùng ức chế SGLT2 cũng có thời gian mắc đái tháo đường kéo dài hơn, tỷ lệ điều trị kết hợp insulin và statin cao hơn. Do đó, phương pháp hiệu chỉnh trọng số xác suất nghịch đảo xu hướng điều trị (IPTW) đã được áp dụng nhằm cân bằng đặc điểm nền về bệnh đồng mắc và tiền sử dùng thuốc giữa hai nhóm can thiệp.
Theo dõi qua thời gian trung vị 2,3 năm, nhóm sử dụng thuốc ức chế SGLT2 giảm rõ rệt nguy cơ tiến triển thành ESKD so với nhóm ức chế DPP-4 (2,3 so với 7,2 biến cố/1.000 người-năm), tương ứng tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh (aHR) là 0,34 sau khi đã kiểm soát thời gian mắc đái tháo đường, độ tuổi, giới tính, bệnh đồng mắc và các thuốc dùng đồng thời.
So với việc điều trị bằng ức chế DPP-4, việc dùng thuốc ức chế SGLT2 cũng giúp giảm có ý nghĩa nguy cơ tổn thương thận cấp (22,2 so với 37,7 biến cố/1.000 người-năm; aHR = 0,66) và biến cố tim mạch bất lợi chính (MACE; 65,4 so với 114,7 biến cố/1.000 người-năm; aHR = 0,67).
Xét riêng từng tiêu chí thành phần của MACE, thuốc ức chế SGLT2 giúp giảm đáng kể nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp (aHR = 0,60), đột quỵ (aHR = 0,72) và tử vong do mọi nguyên nhân (aHR = 0,58); riêng biến cố suy tim không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Bên cạnh đó, việc điều trị bằng thuốc ức chế SGLT2 còn làm giảm có ý nghĩa tỷ lệ xuất hiện biến chứng xơ gan mất bù so với ức chế DPP-4 trên tổng thể dân số nghiên cứu (aHR = 0,65). Xu hướng này cũng đồng nhất ở các phân nhóm bệnh nhân theo bệnh thận đồng mắc, tình trạng nhiễm virus viêm gan, xơ gan do rượu, viêm gan thoái hóa mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa (MASH / NASH), cũng như việc dùng thuốc kháng virus đường uống, thuốc kháng virus tác động trực tiếp (DAA) và thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid.
Hiệu quả bảo vệ này tiếp tục được ghi nhận nhất quán trên từng biến cố mất bù gan cụ thể, bao gồm cổ trướng (aHR = 0,65), viêm phúc mạc (aHR = 0,62) và xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản (aHR = 0,67).