Các kết quả nghiên cứu “highlight that pruritus in general (as well as moderate-to-severe pruritus specifically) is common, persistent and can have a profound impact on patients with CLDs over time” (tạm dịch: “nhấn mạnh rằng triệu chứng ngứa nói chung, đặc biệt là ngứa từ mức độ trung bình đến nặng, rất phổ biến, tiến triển dai dẳng và có thể gây ảnh hưởng sâu sắc lâu dài đến người bệnh gan mạn tính”), theo báo cáo của TS. Usha Gungabissoon (Tập đoàn GSK, London, Vương quốc Anh) và các cộng sự trên tạp chí BMJ Open Gastroenterology.

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát sàng lọc triệu chứng ngứa trên 717 bệnh nhân tại Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada và Đức. Nhóm đối tượng này bao gồm người mắc viêm đường mật ứ mật nguyên phát (PBC), viêm xơ đường mật nguyên phát (PSC), viêm gan tự miễn (AIH), viêm gan vi-rút B mạn tính (HBV), viêm gan vi-rút C mạn tính (HCV), tổn thương gan do thuốc (DILI) hoặc viêm gan thoái hóa mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASH).

Nhìn chung, 56% bệnh nhân ghi nhận có ngứa trong vòng 3 tháng trước đó (được định nghĩa là điểm số từ 1,0 trở lên trên thang điểm đánh giá mức độ ngứa nặng nhất WI-NRS), và 42% có điểm số từ 4,0 trở lên, biểu hiện triệu chứng ở mức độ trung bình đến nặng.

Trong số 357 bệnh nhân đạt tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu (bao gồm điểm WI-NRS tối thiểu 1,0 do bệnh nhân tự báo cáo và không có nguyên nhân gây ngứa ngoài gan trong 3 tháng gần nhất), phần lớn thuộc nhóm bệnh nhân PBC (n=80), PSC (n=74), MASH (n=61) hoặc HCV (n=54). Độ tuổi trung bình giữa các phân nhóm dao động từ 47–57 tuổi, tỷ lệ nữ giới chiếm 46–89%, và đa số (72%) cư trú tại Hoa Kỳ hoặc Đức.

Gánh nặng ngứa đáng kể ở bệnh nhân gan mạn tính

Những bệnh nhân tham gia tiếp tục được đánh giá định kỳ về mức độ ngứa và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL) tại thời điểm ban đầu, sau 3 tháng và 6 tháng.

Tại thời điểm ban đầu, khoảng thời gian kể từ khi khởi phát triệu chứng ngứa dao động từ trung bình 28,0 tháng ở bệnh nhân MASH đến 77,5 tháng ở bệnh nhân PBC. Điều này cho thấy “pruritus is a chronic problem for many patients” (tạm dịch: “ngứa là một vấn đề mạn tính nan giải đối với nhiều người bệnh”), các tác giả nhận định.

Điểm số WI-NRS ban đầu trung bình từ 3,8 điểm ở nhóm MASH đến 5,1 điểm ở nhóm PSC (trên thang điểm tối đa 10,0); trong đó có 49,2–64,9% bệnh nhân ghi nhận mức điểm từ 4,0 trở lên.

Hơn 32% tổng số người tham gia cho biết cảm giác ngứa của họ “about the same” (tạm dịch: “gần như không thay đổi”) so với thời điểm khởi phát, trong khi hơn 25% nhận thấy triệu chứng ngày càng trầm trọng hơn. Những thuật ngữ phổ biến nhất được người bệnh mô tả về tình trạng này là “deep itch” (tạm dịch: “ngứa sâu bên trong”) và “urgent itch” (tạm dịch: “ngứa dữ dội, thôi thúc gãi khẩn cấp”), chiếm tỷ lệ từ 53,7% ở bệnh nhân HCV lên tới 77,0% ở nhóm mắc PSC.

Nhóm tác giả cũng ghi nhận hơn 2/3 người tham gia đã phải chủ động thay đổi thói quen sinh hoạt kể từ khi xuất hiện ngứa; cụ thể 33,3–43,8% phải thay đổi trang phục và 31,1–36,3% phải điều chỉnh chế độ ăn uống.

Các biện pháp can thiệp thường được áp dụng nhất là thuốc bôi tại chỗ (73,8–82,4% bệnh nhân từng sử dụng) và thuốc kháng histamin (38,9–73,0%), trong khi nhóm chất gắn axit mật (bile acid sequestrants) được sử dụng ở 1,9–48,6% người bệnh.

Tuy vậy, có tới 16% bệnh nhân dùng thuốc bôi ngoài da và 23% người dùng kháng histamin không ghi nhận cải thiện triệu chứng; tình trạng tương tự cũng xảy ra ở tối đa 9% bệnh nhân đang dùng các thuốc kê đơn khác. Thực tế này “may reflect the gaps in knowledge, limited treatment guidelines and clinical trial data on treatments for pruritus in CLD or the fact that current treatments for pruritus are perceived to be largely ineffective or poorly tolerated” (tạm dịch: “có thể phản ánh khoảng trống về mặt dữ liệu, sự hạn chế trong các hướng dẫn điều trị cũng như thiếu hụt thử nghiệm lâm sàng đối với chứng ngứa trong bệnh gan mạn, hoặc do các liệu pháp hiện hành phần lớn chưa mang lại hiệu quả rõ rệt hay kém dung nạp”), TS. Gungabissoon và cộng sự phân tích.

Tác động dai dẳng đến chất lượng cuộc sống (HRQoL)

Triệu chứng ngứa gây ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến các mối quan hệ thân mật, sức khỏe tinh thần và khả năng tập trung của người bệnh; trong đó tình trạng ngứa mức độ nặng gây tác động tiêu cực ở 50% đến 96% các trường hợp.

Mức độ ngứa càng nghiêm trọng, điểm HRQoL đánh giá qua thang đo SF-36 (36-Item Short-Form Health Survey) càng suy giảm. Khía cạnh sức khỏe tổng quát chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, điều mà các nhà nghiên cứu cho rằng “is likely attributable to the presence of a chronic disease and its impact on future health outlook” (tạm dịch: “nhiều khả năng bắt nguồn từ gánh nặng sẵn có của một bệnh lý mạn tính và những lo ngại đối với tiên lượng sức khỏe trong tương lai”).

Điểm số trung bình trên thang đánh giá ngứa 5 chiều (5-D itch scale) dao động từ 12,0 (nhóm MASH) đến 13,6 (nhóm PSC) trên thang điểm 25,0 (điểm càng cao thể hiện mức độ ngứa càng trầm trọng). Mức độ suy giảm trên thang đo này tương quan chặt chẽ với độ nặng trên thang WI-NRS, qua đó “demonstrate the impact pruritus has on day-to-day activities, including sleep, social life and work” (tạm dịch: “minh chứng rõ ràng cho những xáo trộn mà triệu chứng ngứa gây ra đối với các hoạt động thường nhật, bao gồm giấc ngủ, đời sống xã hội và hiệu suất công việc”).

Các hạn chế của nghiên cứu

Các tác giả thừa nhận quần thể nghiên cứu có thể tồn tại sai số tự lựa chọn (self-selection bias), do những bệnh nhân có triệu chứng nặng nề, chịu nhiều gánh nặng bệnh tật hoặc quan tâm nhiều hơn đến HRQoL thường có xu hướng chủ động tham gia nghiên cứu.

Bên cạnh đó, nghiên cứu chưa đối chiếu lại mức độ tiến triển của bệnh gan mạn tính thông qua chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm cận lâm sàng chuyên sâu hay hồ sơ bệnh án cá nhân.

Từ những hạn chế nội tại này, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh: “further research is required to understand the drivers of pruritus occurrence in patients, the therapeutic shortfall in an era of current anti-itch treatments and factors influencing persistence versus resolution of symptoms over time to increase generalisability” (tạm dịch: “cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn nhằm làm sáng tỏ cơ chế sinh bệnh học của chứng ngứa, giải quyết những khoảng trống điều trị chưa được đáp ứng bởi các liệu pháp hiện thời, cũng như xác định các yếu tố quyết định tính chất dai dẳng hay thoái lui của triệu chứng theo thời gian, giúp tăng khả năng khái quát hóa kết quả trên lâm sàng”).