Bác sĩ M. Lia Palomba cùng các cộng sự tại Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering (New York, Hoa Kỳ) nhận định trên tạp chí The Lancet: “The safety profile was manageable, and no new safety signals were identified beyond those observed in lisocabtagene maraleucel studies in other B-cell malignancies” (tạm dịch: “Hồ sơ an toàn ở mức kiểm soát được và không ghi nhận thêm tín hiệu an toàn mới nào ngoài những quan sát trước đây trong các nghiên cứu lisocabtagene maraleucel trên bệnh lý ác tính dòng tế bào B khác”).
Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh thêm: “show that a one-time infusion of lisocabtagene maraleucel is a highly effective treatment option for patients with relapsed or refractory MZL, providing meaningful clinical benefit to a patient population with a high unmet need” (tạm dịch: “kết quả cho thấy việc truyền một liều duy nhất lisocabtagene maraleucel là một lựa chọn điều trị mang lại hiệu quả cao cho bệnh nhân u lympho vùng rìa tái phát hoặc kháng trị, đem lại lợi ích lâm sàng có ý nghĩa cho nhóm bệnh nhân vốn còn nhiều nhu cầu điều trị chưa được đáp ứng”).
Báo cáo trình bày kết quả phân tích chính trên nhánh bệnh nhân MZL thuộc thử nghiệm TRANSCEND FL, thu nhận 77 bệnh nhân đã qua ít nhất hai phác đồ điều trị toàn thân trước đó từ 30 trung tâm nghiên cứu tại Hoa Kỳ, Canada, châu Âu và Nhật Bản.
Toàn bộ bệnh nhân đều được gạn tách bạch cầu và 67 người bệnh được truyền tĩnh mạch một liều liso-cel duy nhất với liều đích 100 x 106 tế bào CAR+ T trong vòng 2–7 ngày sau phác đồ hóa trị tiêu diệt lympho bào.
Đặc điểm lâm sàng ghi nhận trung vị tuổi là 62, đã trải qua trung vị ba phác đồ điều trị trước đó, và phần lớn (79%) thuộc nhóm nguy cơ cao theo thang điểm Tiên lượng Quốc tế cho MZL (MZL-IPI). Về phân nhóm giải phẫu bệnh, thể hạch chiếm ưu thế (48%), theo sau là thể lách (27%) và thể mô lympho liên kết niêm mạc ngoài hạch (MALT) (25%).
Qua thời gian theo dõi trung vị 24,1 tháng, tiêu chí đánh giá chính là tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) theo hội đồng đánh giá độc lập đạt 95% ở 66 bệnh nhân đủ điều kiện, đạt ngưỡng thành công định trước của nghiên cứu.
Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn đạt 62%; trung vị thời gian duy trì đáp ứng cũng như trung vị thời gian sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh tiến triển đều chưa đạt tới. Tại mốc 24 tháng, 90% bệnh nhân vẫn sống và 86% sống không bệnh tiến triển.
TS. Palomba cùng các đồng nghiệp lưu ý: “[a]lthough limited by the small number of patients in certain subgroups, subgroup analyses showed consistent results with the overall population, including in subgroups by MZL subtype or high-risk features” (tạm dịch: “Mặc dù còn hạn chế do cỡ mẫu nhỏ ở một số phân nhóm, phân tích dưới nhóm vẫn ghi nhận kết quả nhất quán với quần thể chung, bao gồm cả các phân nhóm theo thể MZL hay theo đặc điểm nguy cơ cao”).
Hồ sơ an toàn ở mức kiểm soát được
Nhìn chung, 88% bệnh nhân xuất hiện biến cố bất lợi liên quan đến điều trị (TEAE) từ độ 3 trở lên; thường gặp nhất là hạ bạch cầu trung tính (72%), giảm tiểu cầu (21%) và giảm bạch cầu (19%). Có hai biến cố độ 5 dẫn đến tử vong, gồm một ca nhiễm khuẩn huyết do giảm bạch cầu trung tính và một ca u lympho tế bào T.
Hội chứng giải phóng cytokine (CRS) độ 3 và biến cố thần kinh độ 3 đều chỉ xuất hiện ở 4% bệnh nhân; không ghi nhận biến cố độ 4 hay độ 5 đối với các độc tính này.
Nhóm nghiên cứu ghi nhận: “CRS and neurological events were managed by use of the protocol-specified and standard-of-care guidelines, and all events resolved” (tạm dịch: “Hội chứng CRS và các biến cố thần kinh đều được xử trí theo đúng phác đồ nghiên cứu cũng như hướng dẫn điều trị chuẩn, và toàn bộ biến cố đều đã thoái lui hoàn toàn”).
Đánh giá về kết quả chung, các tác giả kết luận: “[t]he efficacy observed with lisocabtagene maraleucel in patients with relapsed or refractory MZL is encouraging and appears to be substantially improved over that shown by the currently approved therapies in this setting” (tạm dịch: “Hiệu quả ghi nhận từ lisocabtagene maraleucel trên bệnh nhân u lympho vùng rìa tái phát hoặc kháng trị rất đáng khích lệ và dường như cải thiện vượt trội so với các liệu pháp đã được phê chuẩn hiện hành trong bối cảnh lâm sàng này”).
Các tác giả nhấn mạnh thêm: “However, longer follow-up will be needed to further evaluate response durability and survival outcomes in this population with indolent lymphoma” (tạm dịch: “Tuy vậy, vẫn cần thời gian theo dõi dài hơn để đánh giá toàn diện độ bền vững của đáp ứng cũng như các kết cục sống còn trên quần thể bệnh nhân u lympho tiến triển chậm này”).