“Longer follow-up is needed to establish durability, long-term safety, and effects on clinically important cardiac outcomes.” (tạm dịch: “Cần theo dõi dài hạn hơn để đánh giá tính bền vững, độ an toàn lâu dài cũng như hiệu quả của liệu pháp lên các kết cục tim mạch quan trọng trên lâm sàng.”)

Thử nghiệm pha 3 này thu nhận 106 bệnh nhân nam từ 10 tuổi trở lên (độ tuổi trung bình là 15) đã được chẩn đoán xác định loạn dưỡng cơ Duchenne (DMD) bằng xét nghiệm di truyền và đang duy trì corticosteroid ổn định dài ngày. Về khả năng vận động, 84,9% bệnh nhân đã mất khả năng đi lại nhưng còn bảo tồn được chức năng đưa tay lên miệng, và 15,1% ở giai đoạn đi lại muộn (được định nghĩa là cần từ 10 giây trở lên để hoàn thành bài test đi hoặc chạy quãng đường 10 m).

Tại thời điểm ban đầu, điểm tiêu chí đầu vào của thang đánh giá chức năng chi trên (PUL) 2.0 (thang điểm từ 0 [hoàn toàn không cử động được bàn tay] đến 6 điểm [có thể giơ cả hai tay]) của đoàn hệ nghiên cứu dao động từ 2 đến 6 điểm; trong đó 54,7% đạt từ 4 đến 6 điểm và 45,3% đạt 2 hoặc 3 điểm. Điểm tổng PUL 2.0 tối đa là 40 điểm (tương đương chức năng chi trên gần như toàn vẹn), với mức điểm trung bình chung trước can thiệp là 27,1 điểm.

Nhóm nghiên cứu nhận định rằng những bệnh nhân này “predicted to lose significant upper limb function and ambulation within 2 years” (tạm dịch: “được dự đoán sẽ suy giảm nghiêm trọng chức năng chi trên và mất khả năng đi lại trong vòng 2 năm”).

Bảo tồn chức năng cơ xương

Sau 12 tháng, ở phân nhóm 54 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để truyền tĩnh mạch deramiocel (liều 1,5 x 108 tế bào có nguồn gốc từ khối cầu tim) định kỳ mỗi 3 tháng, mức giảm trung bình bình phương tối thiểu của tổng điểm PUL 2.0 chỉ là 3,9%, thấp hơn đáng kể so với mức suy giảm 8,4% ở nhóm 52 bệnh nhân dùng giả dược.

Mức chênh lệch 4,5 điểm phần trăm nghiêng về deramiocel đạt ý nghĩa thống kê, minh chứng cho khả năng “preservation of upper limb function” (tạm dịch: “bảo tồn chức năng vận động chi trên”), theo kết luận của nhóm tác giả.

Deramiocel mang lại lợi thế 1,2 điểm trên tổng điểm PUL 2.0 so với giả dược. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng mức cải thiện này tương đương với “a 54% reduction in mean skeletal-muscle disease progression over 12 months” (tạm dịch: “giảm 54% tốc độ tiến triển tổn thương cơ xương trung bình trong 12 tháng”); và nếu hiệu quả này duy trì ổn định, thuốc sẽ tương đương với việc “delaying approximately 1 year of untreated progression over 2 years” (tạm dịch: “trì hoãn được khoảng 1 năm tiến triển bệnh tự nhiên trong vòng 2 năm theo dõi”).

Tương tự kết quả từ thử nghiệm HOPE-2 trước đó, phân vùng chức năng chi trên tầm trung (vận động khớp khuỷu) của thang PUL là phân vùng đáp ứng tốt nhất với điều trị. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh: “Changes in the mid-level PUL are particularly relevant, as they are highly associated with quality-of-life indicators such as the ability to eat independently” (tạm dịch: “Những cải thiện ở phân vùng PUL tầm trung có ý nghĩa lâm sàng rất lớn, do liên quan mật thiết đến các chỉ số chất lượng cuộc sống, điển hình như khả năng tự xúc ăn độc lập”).

Lợi ích đối với chức năng tim mạch

Tiêu chí phụ then chốt về sự biến thiên phân suất tống máu thất trái (LVEF) sau 12 tháng chưa đạt mức ý nghĩa thống kê, nhưng vẫn ghi nhận xu hướng cải thiện về mặt số học ở nhóm dùng deramiocel. Ở nhóm can thiệp, LVEF giảm từ mức ban đầu 54,4% với giá trị trung bình xếp hạng bình phương tối thiểu là 57,47; trong khi ở nhóm giả dược, mức giảm từ 59,6% ban đầu có giá trị là 45,82, tạo ra mức chênh lệch 9,51 giữa hai nhóm.

Xét theo giá trị tuyệt đối, lợi ích cải thiện LVEF của deramiocel so với giả dược đạt mức trung bình 1,92 điểm phần trăm sau 12 tháng. Theo báo cáo của tác giả McDonald và cộng sự, kết quả này đồng nghĩa với việc làm chậm tới 91% tốc độ suy giảm chức năng tim ở nhóm dùng deramiocel so với nhóm chứng.

Bên cạnh đó, nhóm điều trị bằng deramiocel cũng ghi nhận mức suy giảm tín hiệu ngấm thuốc đối quang từ muộn (LGE) thấp hơn có ý nghĩa danh nghĩa so với giả dược. Điều này cho thấy tiến trình tạo sẹo xơ cơ tim đã “markedly attenuated” (tạm dịch: “được giảm thiểu rõ rệt”), gợi ý rằng hiệu quả bảo tồn LVEF có thể liên quan mật thiết đến cơ chế ngăn ngừa xơ hóa cơ tim.

Độ an toàn: Không ghi nhận tín hiệu bất thường mới

Nhìn chung, deramiocel dung nạp tốt trên lâm sàng. Tỷ lệ biến cố bất lợi xuất hiện trong quá trình điều trị (TEAE) lần lượt là 94,3% ở nhóm can thiệp và 82,7% ở nhóm giả dược, với đại đa số ở mức độ nhẹ đến trung bình. Các biến cố thường gặp nhất (mọi độ nặng) gồm nhức đầu (64,2% so với 5,8%), ho (22,6% so với 7,7%), sốt (24,5% so với 3,8%), buồn nôn (15,1% so với 9,6%) và nhịp tim nhanh (17,0% so với 7,7%); phần lớn các triệu chứng tự thoái lui trong vòng 1–2 ngày. Không ghi nhận trường hợp nào suy hô hấp cấp, mắc hội chứng mẫn cảm miễn dịch hay tử vong.

Phản ứng quá mẫn xảy ra với tần suất cao hơn ở nhóm dùng deramiocel so với nhóm giả dược (41,5% so với 15,4%), tuy nhiên tỷ lệ biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) lại ghi nhận nhiều hơn ở nhóm giả dược (9,6% so với 1,9%).

Xuyên suốt thử nghiệm chỉ có 2 biến cố bất lợi nghiêm trọng liên quan đến điều trị (mỗi nhóm 1 ca): một phản ứng liên quan đến tiêm truyền độ 2 ở bệnh nhân dùng deramiocel, và một phản ứng phản vệ độ 4 do tá dược ở bệnh nhân dùng giả dược; cả hai đều hồi phục hoàn toàn sau xử trí.

Trước nguy cơ xuất hiện các phản ứng quá mẫn, nhóm tác giả khuyến cáo quy trình dùng thuốc cần tuân thủ nghiêm ngặt việc “medically supervised administrations at an infusion centre” (tạm dịch: “truyền thuốc dưới sự giám sát y khoa chặt chẽ tại trung tâm tiêm truyền chuyên trách”).