Nhóm tác giả nhận định sự hiện diện của “reduced PFVD may warrant closer cardiovascular risk assessment, even in otherwise healthy, asymptomatic individuals” (tạm dịch: “tình trạng giảm PFVD có thể là chỉ dấu cho thấy cần đánh giá kỹ lưỡng hơn nguy cơ tim mạch, ngay cả ở những cá nhân khỏe mạnh và không có triệu chứng lâm sàng”), đồng thời nhấn mạnh thêm rằng OCTA “could serve as an opportunistic window to identify those at risk for subclinical [cardiovascular disease]” (tạm dịch: “có thể đóng vai trò như một cơ hội thuận tiện để tầm soát những đối tượng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch dưới lâm sàng”).
TS. BS. Seung-Whan Lee cùng các cộng sự tại Trường Y thuộc Đại học Ulsan (Seoul, Hàn Quốc) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên 1.286 người trưởng thành Hàn Quốc (độ tuổi trung bình 64,2; 62,5% là nam giới). Tất cả đối tượng tham gia đều được chụp cắt lớp vi tính động mạch vành (coronary CTA) và OCTA trong khuôn khổ chương trình tầm soát sức khỏe tự nguyện từ tháng 10/2015 đến tháng 12/2020.
Trên hình ảnh CTA, các tác giả định lượng điểm vôi hóa động mạch vành (CACS), đánh giá gánh nặng mảng xơ vữa, đồng thời xác định bệnh động mạch vành (ĐMV) có tắc nghẽn (hẹp ≥50%) và bệnh ĐMV mức độ nặng (tổn thương nhiều nhánh hoặc thân chung ĐMV trái). Mức độ lan tỏa và gánh nặng mảng xơ vữa toàn thể được lượng hóa bằng thang điểm hẹp phân đoạn (SSS) và thang điểm phân đoạn tổn thương (SIS).
Kết quả CTA ghi nhận gánh nặng bệnh lý mạch vành đáng kể: 62,5% đối tượng có mảng xơ vữa, 23,3% mắc bệnh ĐMV tắc nghẽn, 9,3% mắc bệnh ĐMV mức độ nặng và 10,6% có điểm vôi hóa CACS vượt ngưỡng 400 điểm.
Về phía nhãn khoa, hình ảnh OCTA được thu nhận ở mắt có thị lực chỉnh kính tối đa kém hơn (hoặc mắt phải nếu thị lực hai mắt tương đương; n = 1.286 mắt) để đo mật độ mạch ở đám rối mao mạch nông (SCP) và đám rối mao mạch sâu (DCP) tại vùng quanh hoàng điểm. Các chỉ số PFVD được chia thành 4 nhóm tứ phân vị, sắp xếp từ nhóm có mật độ mạch trung bình thấp nhất (Q1; 35,1% ở SCP và 40,0% ở DCP) đến nhóm cao nhất (Q4; tương ứng 53,3% và 56,8%).
Khi phân tầng quần thể nghiên cứu theo PFVD, những người thuộc nhóm Q1 (cả SCP lẫn DCP) có độ tuổi cao hơn rõ rệt so với nhóm Q4, đồng thời có tỷ lệ mắc đái tháo đường và nguy cơ bệnh tim mạch xơ vữa trong 10 năm ở mức cao (≥20%) vượt trội hơn có ý nghĩa thống kê.
Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng so với nhóm Q4, người thuộc nhóm Q1 về PFVD ở SCP có tỷ lệ mắc bệnh ĐMV tắc nghẽn cao gấp gần 3 lần (tỷ số chênh [OR] = 2,91), bệnh ĐMV nặng cao gấp hơn 3 lần (OR = 3,30), và tăng nguy cơ xuất hiện mảng xơ vữa biểu hiện qua điểm SSS ≥ 10 (OR = 3,04) cùng điểm SIS ≥ 5 (OR = 1,97).
Sự sụt giảm PFVD ở SCP cũng tương quan chặt chẽ với tình trạng vôi hóa mạch vành. Cụ thể, tỷ lệ đối tượng có CACS trên 400 điểm (chỉ dấu của mảng xơ vữa tiến triển) tăng từ 5,9% ở nhóm Q4 lên 15,9% ở nhóm Q1. Tương tự, tỷ lệ phát hiện mảng xơ vữa nói chung cũng tăng từ 50,9% (nhóm Q4) lên đến 71,0% (nhóm Q1).
Mối liên quan tương tự nhưng mức độ thấp hơn cũng được ghi nhận ở đám rối mao mạch sâu (DCP); theo đó, các cá nhân ở nhóm Q1 có nguy cơ mắc bệnh ĐMV tắc nghẽn (OR = 1,75) và bệnh ĐMV nặng (OR = 2,10) cao gần gấp đôi so với nhóm Q4.
Nhóm nghiên cứu cũng đã xác lập các điểm cắt (cutoff) của PFVD nhằm cảnh báo nguy cơ bệnh ĐMV tắc nghẽn và bệnh ĐMV nặng. Đối với SCP, người bệnh có giá trị dưới ngưỡng 46,3% có nguy cơ mắc bệnh ĐMV nặng cao gấp hơn 3 lần (OR hiệu chỉnh [aOR] = 3,13) và nguy cơ mắc bệnh ĐMV tắc nghẽn cao gần gấp đôi (aOR = 1,89). Điểm cắt đối với DCP là 49,6%, dưới mức này nguy cơ bệnh ĐMV cũng gia tăng dù mức độ liên kết thấp hơn SCP. Khi kết hợp đồng thời cả hai chỉ số, giá trị dự báo nguy cơ bệnh ĐMV tăng lên rõ rệt.
Nhóm tác giả nhấn mạnh: Việc bổ sung chỉ số PFVD – đặc biệt là PFVD ở SCP – vào mô hình các yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển (tuổi, giới tính, hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu và BMI) “showed incremental benefits over traditional cardiovascular risk factors for identifying severe CAD, obstructive CAD, and SSS of 10 or higher” (tạm dịch: “đã chứng minh giá trị gia tăng vượt trội so với các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống trong việc phát hiện bệnh ĐMV nặng, bệnh ĐMV tắc nghẽn và điểm SSS từ 10 trở lên”).
Các tác giả cũng thừa nhận một số hạn chế nhất định của nghiên cứu, bao gồm việc thực hiện trên một quần thể đơn sắc tộc tại cơ sở khám chữa bệnh, loại trừ các đối tượng mắc bệnh lý hoàng điểm giai đoạn tiến triển, cũng như tỷ lệ hiện diện các yếu tố nguy cơ tim mạch nền tảng khá cao trong mẫu nghiên cứu.
Dù vậy, nhóm nghiên cứu kết luận rằng “retinal microvasculature measurements by OCTA are associated with subclinical coronary atherosclerosis” (tạm dịch: “các phép đo vi mạch võng mạc qua OCTA có mối liên quan mật thiết với tình trạng xơ vữa động mạch vành dưới lâm sàng”) và khi “integrated with conventional cardiovascular risk factors, reduced PFVD may serve as a complementary marker to help identify asymptomatic individuals who could benefit from further cardiovascular evaluation” (tạm dịch: “kết hợp cùng các yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển, tình trạng giảm PFVD có thể đóng vai trò như một chỉ dấu bổ trợ hữu ích, giúp sàng lọc những cá nhân chưa có triệu chứng nhưng có thể hưởng lợi từ các thăm dò tim mạch chuyên sâu hơn”).