Kết quả từ thử nghiệm lâm sàng MajesTEC-9 – được công bố đồng thời trên tạp chí danh tiếng The New England Journal of Medicine – cho thấy teclistamab giúp cải thiện đáng kể thời gian sống thêm không bệnh tiến triển (PFS) và thời gian sống còn toàn bộ (OS) so với các phác đồ chuẩn do bác sĩ điều trị lựa chọn, bao gồm pomalidomide, bortezomib kèm dexamethasone (PVd) hoặc carfilzomib kết hợp dexamethasone (Kd).

PGS. Cyrille Touzeau (Trung tâm Bệnh viện Đại học Nantes, Pháp) cùng các cộng sự nhận định: “The MajesTEC-3 and MajesTEC-9 trials showed the efficacy of teclistamab treatment, results that support the use of teclistamab-based, glucocorticoid-sparing regimens as second-line and later treatment options for multiple myeloma across a range of practice settings” (tạm dịch: “Các thử nghiệm MajesTEC-3 và MajesTEC-9 đã chứng minh hiệu quả vượt trội của teclistamab; các kết quả này ủng hộ việc ứng dụng phác đồ nền teclistamab giúp giảm liều glucocorticoid như một lựa chọn điều trị từ bước hai trở đi cho bệnh đa u tủy xương trong nhiều bối cảnh thực hành lâm sàng khác nhau”).

Thử nghiệm nhãn mở pha 3 này tuyển chọn nhóm bệnh nhân có bệnh lý kháng trị hoặc tiến triển sau khi đã tiếp nhận từ một đến ba phác đồ điều trị trước đó; tất cả bệnh nhân đều từng được điều trị bằng kháng thể đơn dòng kháng CD38 và lenalidomide.

Tổng cộng có 296 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào nhóm dùng teclistamab tiêm dưới da theo chu kỳ 28 ngày. Quy trình khởi đầu với phác đồ tăng liều từng bước (step-up) gồm 0,06 mg/kg và 0,3 mg/kg, kế tiếp là liều hàng tuần 1,5 mg/kg, sau đó là 4 chu kỳ dùng liều 3,0 mg/kg mỗi 14 ngày, và duy trì 3,0 mg/kg mỗi 28 ngày ở các chu kỳ tiếp theo. Nhóm đối chứng gồm 297 bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ PVd chu kỳ 21 ngày hoặc Kd chu kỳ 28 ngày theo hướng dẫn chuẩn.

Phân tích giữa kỳ sau thời gian theo dõi trung vị 17,3 tháng cho thấy teclistamab đã đạt được tiêu chí chính về PFS: tỷ lệ sống thêm không bệnh tiến triển ước tính tại thời điểm 18 tháng đạt 69,8% ở nhóm teclistamab so với 26,9% ở nhóm đối chứng, tương ứng với tỷ số nguy cơ (HR) đầy ý nghĩa là 0,29.

Bên cạnh đó, teclistamab còn mang lại tỷ lệ đạt đáp ứng hoàn toàn trở lên (≥CR) cao vượt trội so với PVd hoặc Kd (65,9% so với 16,8%), đồng thời cải thiện rõ rệt thời gian sống còn toàn bộ (OS) với tỷ lệ 18 tháng ước tính là 79,2% so với 68,6% (HR = 0,60).

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng những lợi ích thứ phát này đạt được “despite the fact that more than two thirds of the patients in the PVd or Kd group who started subsequent therapy received bispecific antibody or CAR T-cell therapies” (tạm dịch: “dù thực tế có hơn hai phần ba số bệnh nhân ở nhóm PVd hoặc Kd khi chuyển sang điều trị bước kế tiếp đã được dùng các liệu pháp kháng thể đặc hiệu kép hoặc tế bào CAR-T”).

Họ cho biết thêm: “Moreover, teclistamab enhanced quality of life by delaying the time to symptom worsening, which, combined with a glucocorticoid-sparing regimen (after cycle 1) and monthly administration from cycle 7 (with a potential early switch among patients with a very good partial response or better), may enhance patient experience” (tạm dịch: “Hơn nữa, teclistamab giúp nâng cao chất lượng cuộc sống nhờ kéo dài thời gian đến khi triệu chứng tiến triển xấu đi; ưu điểm này khi kết hợp cùng chiến lược giảm phụ thuộc glucocorticoid sau chu kỳ 1 và giãn cách dùng thuốc mỗi tháng một lần từ chu kỳ 7 – thậm chí có thể chuyển đổi sớm hơn ở bệnh nhân đạt đáp ứng một phần rất tốt trở lên – sẽ cải thiện rõ rệt trải nghiệm điều trị của người bệnh”).

Tuy vậy, nhóm nghiên cứu của Touzeau cũng ghi nhận tỷ lệ gặp biến cố bất lợi (AE) độ 3 hoặc 4 ở nhánh teclistamab cao hơn so với PVd hoặc Kd (84,9% so với 76,3%), bao gồm cả biến cố độ 5 dẫn đến tử vong (6,5% so với 3,5%). Teclistamab cũng có liên quan đến tỷ lệ nhiễm trùng độ 3 hoặc 4 cao hơn (41,6% so với 29,0%) cũng như các ca nhiễm trùng gây tử vong (5,5% so với 2,8%).

Biến cố bất lợi nghiêm trọng xuất hiện ở 56,7% bệnh nhân nhóm teclistamab và 45,6% ở nhóm đối chứng, dẫn đến việc phải ngừng điều trị với tỷ lệ tương ứng là 10,7% và 13,1%.

Ngoài ra, 66,0% bệnh nhân dùng teclistamab xuất hiện hội chứng giải phóng cytokine (CRS) – đa phần xảy ra trong giai đoạn dò tăng liều ở mức độ 1 (48,8%) hoặc độ 2 (16,5%) – và 4,1% gặp hội chứng độc thần kinh liên quan đến tế bào hiệu ứng miễn dịch (ICANS).

Các tác giả ghi nhận: “Consensus guidelines now recommend prophylactic tocilizumab to further reduce the occurrence of cytokine release syndrome” (tạm dịch: “Các hướng dẫn đồng thuận hiện nay khuyến cáo dùng tocilizumab dự phòng để giảm thiểu tối đa nguy cơ xảy ra hội chứng giải phóng cytokine”). Đáng chú ý, một nửa số trường hợp nhiễm trùng tử vong ở nhóm teclistamab ghi nhận trên những bệnh nhân có nồng độ IgG huyết thanh dưới 400 mg/dL; phát hiện này càng nhấn mạnh vai trò thiết yếu của việc bù globulin miễn dịch và điều trị dự phòng nhiễm trùng trong suốt quá trình điều trị.

Trước thực tế phần lớn người bệnh tham gia nghiên cứu đều đã kháng với cả thuốc kháng CD38 lẫn lenalidomide, nhóm nghiên cứu nhận định: “the results of our trial are highly relevant as the use of four-drug and anti-CD38– or lenalidomide-based regimens dominate the frontline treatment landscape” (tạm dịch: “kết quả từ thử nghiệm của chúng tôi mang tính ứng dụng thực tiễn rất cao, đặc biệt khi các phác đồ bộ tứ kết hợp hoặc phác đồ nền kháng CD38 và lenalidomide đang chiếm ưu thế vượt trội ở bước điều trị ban đầu”).

Nhóm nghiên cứu đi đến kết luận: “Clinical evidence and contemporary treatment guidelines support the preferential use of BCMA-directed T-cell–engaging therapies, including bispecific antibodies and CAR T cells, given their higher depth and durability of response when administered earlier in the disease course” (tạm dịch: “Các bằng chứng lâm sàng cùng hướng dẫn điều trị hiện hành đều ủng hộ việc ưu tiên ứng dụng các liệu pháp kích hoạt tế bào T nhắm vào BCMA – bao gồm kháng thể đặc hiệu kép và tế bào CAR-T – nhờ khả năng mang lại đáp ứng sâu hơn và bền vững hơn khi được chỉ định sớm trong diễn tiến bệnh”).