Mức tăng nguy cơ này cao hơn rất nhiều so với con số tăng gấp 9 lần từng được ghi nhận trong nghiên cứu trước đây. Nhóm tác giả giải thích rằng “difference can be explained by the lower sensitivity of the retrospective screening study by pool sequencing and this prospective study with clinical diagnostic standards” (tạm dịch: “sự khác biệt này bắt nguồn từ độ nhạy còn hạn chế của nghiên cứu tầm soát hồi cứu bằng phương pháp gộp mẫu giải trình tự, trong khi nghiên cứu tiến cứu lần này áp dụng hoàn toàn các tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng”).

Tỷ lệ hiện mắc các biến thể MBD4 ở người bệnh melanoma màng bồ đào cũng cao hơn so với các báo cáo trước đó. Nhóm nghiên cứu nhận định: “This reinforces a strategy of broad patient screening given the therapeutic implications and the consequences of genetic counseling” (tạm dịch: “Kết quả này củng cố mạnh mẽ chiến lược mở rộng tầm soát trên người bệnh, đặc biệt khi xét đến các định hướng điều trị can thiệp và giá trị của tư vấn di truyền”).

Nghiên cứu tiến hành trên 896 người bệnh (gồm 319 trường hợp từng được đánh giá trước đây) mới được chẩn đoán melanoma màng bồ đào trong giai đoạn từ tháng 2 năm 2021 đến tháng 9 năm 2025 tại một viện chuyên khoa ở Pháp. Toàn bộ người bệnh đều đồng thuận làm xét nghiệm di truyền dòng mầm bằng phương pháp giải trình tự gen đích với panel có chứa gen MBD4.

Kết quả ghi nhận 23 trường hợp mang biến thể gây bệnh hoặc có khả năng gây bệnh trên gen MBD4, tương ứng với tỷ lệ hiện mắc 2,6%—vượt trội so với mức 0,7% từng được ghi nhận trong y văn.

Khi đối chiếu với nhóm đối chứng người châu Âu không thuộc gốc Phần Lan trong Cơ sở dữ liệu Tích lũy Bộ gen (gnomAD), các biến thể MBD4 gây bệnh hoặc có khả năng gây bệnh chiếm tỷ lệ áp đảo rõ rệt ở nhóm bệnh nhân melanoma màng bồ đào.

Báo cáo trên tạp chí JAMA Ophthalmology chỉ ra rằng điều này tương ứng với nguy cơ tương đối mắc melanoma màng bồ đào tăng tới 31,44 lần ở nhóm người mang biến thể MBD4 so với dân số chung.

TS. Chrystelle Colas (Viện Curie, Paris, Pháp) cùng các đồng nghiệp lưu ý thêm: “one of the limitations of our study is the comparison of a series of French patients with uveal melanoma with the non-Finnish European gnomAD control individuals, as there is no large sequenced series of control French individuals available yet” (tạm dịch: “Một trong những hạn chế của nghiên cứu là phải đối chiếu nhóm bệnh nhân Pháp mắc melanoma màng bồ đào với nhóm chứng người châu Âu không thuộc gốc Phần Lan trên gnomAD, do hiện vẫn chưa có sẵn tập dữ liệu giải trình tự quy mô lớn đối với người Pháp khỏe mạnh”).

Nhóm tác giả cũng khuyến cáo rằng tần suất cao của các biến thể MBD4 gây bệnh hoặc có khả năng gây bệnh “may not be generalizable for all populations of European ancestry” (tạm dịch: “có thể không mang tính đại diện cho toàn bộ các quần thể người gốc châu Âu”), đồng thời nhấn mạnh “the incidence appears to be low in the Finnish population” (tạm dịch: “tần suất xuất hiện dường như khá thấp ở quần thể người Phần Lan”).

Từ các phát hiện này, nhóm nghiên cứu kết luận: “further work will be needed to determine its significance and prevalence across other populations” (tạm dịch: “Cần có thêm các nghiên cứu tiếp theo nhằm xác định rõ ý nghĩa lâm sàng cũng như tỷ lệ hiện hành của các biến thể này trên các quần thể dân số khác”).