GS. Janet Pope (Đại học Western, London, Ontario, Canada) cùng các cộng sự nhận định: “Using parenteral GCs instead of oral might decrease the long-term use of GCs among patients with [early] RA. This change could reduce steroid-related side effects, with similar disease control and outcomes” (tạm dịch: “Sử dụng glucocorticoid đường tiêm thay vì đường uống có thể làm giảm nguy cơ lạm dụng glucocorticoid kéo dài ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm. Thay đổi này giúp giảm thiểu tác dụng phụ liên quan đến steroid, trong khi vẫn bảo đảm hiệu quả kiểm soát bệnh và tiên lượng tương đương”).
Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng các dữ liệu quan sát cho thấy: “GC use in [early] RA is often chronic” (tạm dịch: “việc sử dụng glucocorticoid trong viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm thường kéo dài mạn tính”), nhiều bệnh nhân vẫn tiếp tục dùng thuốc sau 2 năm khởi trị; điều này “not aligned with guideline recommendations for rapid [GC] tapering” (tạm dịch: “hoàn toàn không phù hợp với khuyến cáo của các hướng dẫn điều trị về việc giảm liều nhanh glucocorticoid”).
Nhằm đánh giá liệu glucocorticoid đường tiêm có giúp kiểm soát triệu chứng nhanh hơn và tạo điều kiện giảm liều sớm hơn so với đường uống hay không, nhóm tác giả đã phân tích dữ liệu từ nghiên cứu CATCH trên 2.222 bệnh nhân trưởng thành tại các trung tâm thấp khớp học viện – trường và cộng đồng ở Canada, có thời gian mắc viêm khớp dạng thấp dưới 1 năm (trung vị 5,5 tháng).
Dân số nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 55 tuổi, điểm chỉ số hoạt động bệnh lâm sàng (CDAI) trung bình là 26 điểm và chỉ số bệnh đồng mắc trong bệnh thấp khớp (RDCI) trung bình là 1,3 điểm.
Trong 3 tháng đầu, 121 bệnh nhân được chỉ định glucocorticoid đường tiêm, 421 người dùng đường uống, 19 người dùng phối hợp cả hai đường và 1.661 người không sử dụng glucocorticoid.
So với nhóm không dùng glucocorticoid, nhóm có chỉ định thuốc có xu hướng lớn tuổi hơn (57–59 so với 53 tuổi), thời gian mắc bệnh ban đầu ngắn hơn (4,2–5,1 so với 5,8 tháng), hoạt tính bệnh cao hơn (CDAI 30,2–32,8 so với 24,1 điểm), tốc độ lắng máu cao hơn (trung vị 27–42 so với 20 mm/giờ) và tỷ lệ điều trị kết hợp với methotrexate cao hơn (69–79% so với 66%).
Các nhà nghiên cứu nhận định điều này cho thấy: “GC initiation was related to more severe initial [early] RA disease activity or a more aggressive treating physician approach” (tạm dịch: “việc bắt đầu dùng glucocorticoid có liên quan đến mức độ hoạt động bệnh nặng hơn ở giai đoạn sớm, hoặc phản ánh chiến lược điều trị tích cực hơn từ phía bác sĩ lâm sàng”).
Sau can thiệp, hoạt tính bệnh ghi nhận mức thuyên giảm tương đương giữa các nhóm. Điểm CDAI trung bình tại thời điểm 12 tháng đạt 7,5 điểm, dao động từ 7,2 điểm ở nhóm không dùng glucocorticoid đến 9,0 điểm ở nhóm dùng đồng thời cả đường uống và đường tiêm.
Mặc dù những bệnh nhân dùng glucocorticoid trong 3 tháng đầu có tỷ lệ vẫn phải tiếp tục dùng thuốc tại thời điểm 12 tháng cao hơn so với nhóm không dùng ngay từ đầu, các tác giả nhấn mạnh rằng nhóm dùng đường tiêm có nguy cơ này thấp nhất, chỉ ở mức 26%. Để so sánh, tỷ lệ này ở nhóm dùng glucocorticoid đường uống là 47%, nhóm dùng phối hợp cả tiêm và uống lên tới 63%, trong khi nhóm không dùng thuốc chỉ là 8%.
Sau khi hiệu chỉnh theo tuổi, giới tính, trình độ học vấn, điểm CDAI, chỉ số RDCI, thời gian khởi phát triệu chứng, việc dùng methotrexate và quy mô cơ sở điều trị, tỷ số chênh (OR) về việc tiếp tục dùng glucocorticoid tại thời điểm 1 năm (so với nhóm không dùng ở tháng thứ 3) là 4,1 ở nhóm tiêm trong 3 tháng đầu và tăng vọt lên 9,8 ở nhóm dùng đường uống.
Pope và cộng sự báo cáo trên tạp chí Annals of Rheumatic Diseases: “The direct comparison of oral vs parenteral GC groups yielded 60% lower odds of still taking GC at 1 year, favouring the second” (tạm dịch: “So sánh trực tiếp giữa hai nhóm cho thấy nhóm dùng glucocorticoid đường tiêm có tỷ lệ duy trì thuốc tại thời điểm 1 năm thấp hơn 60% so với nhóm dùng đường uống, hoàn toàn nghiêng về ưu thế của đường tiêm”).
Các tác giả cho biết thêm sự khác biệt trong việc duy trì glucocorticoid đã thể hiện rõ ràng ngay từ mốc 6 tháng, khi tỷ lệ người bệnh phải dùng thuốc ở nhóm đường tiêm thấp hơn nhóm đường uống tới 34 điểm phần trăm (có ý nghĩa thống kê).
Đáng chú ý, đường dùng glucocorticoid không ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh nhân phải nâng bậc lên các liệu pháp điều trị sinh học hoặc nhắm trúng đích tại thời điểm 12 tháng; tỷ lệ này tương đương nhau giữa nhóm tiêm và nhóm uống trong 3 tháng đầu.
Bình luận về ưu thế của đường tiêm so với đường uống, các tác giả nhấn mạnh liệu pháp này “enables controlled dosing, reduces opportunities for unscheduled dose escalation, and may help limit long-term GC exposure—thereby reducing cumulative toxicity” (tạm dịch: “giúp kiểm soát liều lượng chặt chẽ, giảm nguy cơ tự ý tăng liều ngoài phác đồ và hỗ trợ hạn chế thời gian phơi nhiễm kéo dài với glucocorticoid — qua đó làm giảm độc tính tích lũy”).
Nhóm nghiên cứu kết luận: “[t]his approach aligns with contemporary guidelines advocating for rapid tapering and discontinuation of GC within a treat-to-target framework and may help clinicians achieve GC-free remission or low disease activity more effectively” (tạm dịch: “Chiến lược này hoàn toàn phù hợp với các khuyến cáo hiện hành về việc giảm liều nhanh và ngưng glucocorticoid trong khuôn khổ điều trị theo mục tiêu (treat-to-target), đồng thời hỗ trợ bác sĩ lâm sàng đưa người bệnh đạt lui bệnh hoặc duy trì mức độ hoạt động bệnh thấp mà không cần phụ thuộc glucocorticoid một cách hiệu quả hơn”).