Thử nghiệm pha 1 PERFORM và pha 2a TACITO tập trung trên nhóm bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) di căn, trong khi thử nghiệm pha 2 FMT-LUMINate thu nhận các trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) hoặc u hắc tố (melanoma).
Tổng hợp các nghiên cứu cho thấy lợi ích của FMT trên nhiều thể mô bệnh học, nhiều phác đồ nền tảng ICI và các nguồn mẫu hiến khác nhau; tuy nhiên, vẫn cần các thử nghiệm quy mô lớn hơn để xác thực những kết quả ban đầu này.
Thử nghiệm PERFORM ghi nhận hiệu quả khả quan trên RCC di căn
Bác sĩ Saman Vareki (Trung tâm Khoa học Y tế London, Ontario, Canada) cùng các cộng sự đã tuyển chọn đơn trung tâm 20 bệnh nhân (80% là nam giới, độ tuổi trung vị 60 tuổi) mắc RCC di căn chưa từng qua điều trị, thuộc nhóm nguy cơ trung bình hoặc kém theo phân loại của Hiệp hội Dữ liệu Ung thư Tế bào Thận Di căn Quốc tế (IMDC).
Toàn bộ người bệnh được dùng một liều đầy đủ LND101 – chế phẩm FMT dạng viên nang có nguồn gốc từ người hiến khỏe mạnh – vào thời điểm 1 tuần trước khi bắt đầu phác đồ ipilimumab kết hợp nivolumab (n=16), pembrolizumab kết hợp axitinib (n=3), hoặc pembrolizumab kết hợp lenvatinib (n=1), sau đó dùng thêm hai liều nửa hàm lượng xen kẽ trong quá trình điều trị.
Nhóm nghiên cứu báo cáo thử nghiệm đã đạt tiêu chí đánh giá chính về độ an toàn. Biến cố bất lợi liên quan đến miễn dịch (irAE) độ 3 xảy ra ở 50% số bệnh nhân, phổ biến nhất là viêm đại tràng ở 6 trường hợp; không ghi nhận biến cố độ 4 hoặc độ 5. Độc tính liên quan trực tiếp đến FMT chỉ gặp ở 1 bệnh nhân với triệu chứng tiêu chảy độ 1.
Sau thời gian theo dõi trung vị 21,9 tháng, 50% trong số 18 bệnh nhân đủ điều kiện đánh giá đạt đáp ứng khách quan, trong đó 11% đạt đáp ứng hoàn toàn và tỷ lệ còn lại là đáp ứng một phần. Thêm 3 bệnh nhân duy trì bệnh ổn định trong ít nhất 6 tháng, đưa tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) lên mức 67%.
Thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) trung vị đạt 11,2 tháng và sống còn toàn bộ (OS) trung vị đạt 36,0 tháng.
Đáng chú ý, chỉ 1 trong số 9 bệnh nhân có đáp ứng điều trị gặp irAE độ 3, so với 8 trên 9 bệnh nhân ở nhóm không đáp ứng. Nhận định về điều này, các tác giả nhấn mạnh: “suggesting that healthy donor FMT may enhance efficacy while mitigating irAEs” (tạm dịch: “gợi ý rằng FMT từ người hiến khỏe mạnh có thể vừa nâng cao hiệu quả điều trị vừa làm giảm thiểu các biến cố bất lợi liên quan đến miễn dịch”).
Thử nghiệm TACITO bổ sung thêm bằng chứng lâm sàng trên mRCC
Thử nghiệm mù đôi này đánh giá tác động của FMT thu nhận từ những người hiến từng đạt đáp ứng hoàn toàn kéo dài với ICI trên bệnh nhân RCC di căn.
Tổng cộng 45 bệnh nhân bắt đầu điều trị bước một với pembrolizumab kết hợp axitinib được phân ngẫu nhiên để nhận FMT từ người hiến (n=23) hoặc giả dược (n=22) với tần suất 3 lần trong vòng 6 tháng; liều đầu tiên được dùng qua nội soi đại tràng và các liều tiếp theo qua đường uống dạng viên nang.
Nhóm tham gia có độ tuổi trung vị là 62 tuổi, phần lớn là nam giới (73%) và 69% thuộc nhóm nguy cơ trung bình hoặc kém theo IMDC.
Bệnh nhân được theo dõi với thời gian trung vị 32 tháng. Mặc dù tiêu chí chính là tỷ lệ PFS tại thời điểm 12 tháng ở nhóm nhận FMT người hiến vượt trội hơn về mặt số học so với nhóm giả dược (70% so với 41%), sự khác biệt giữa hai nhóm chưa đạt mức ý nghĩa thống kê.
Tuy nhiên, thời gian PFS trung vị lại kéo dài có ý nghĩa thống kê ở nhóm dùng FMT người hiến so với nhóm giả dược, đạt 24,0 tháng so với 9,0 tháng; trong khi thời gian OS trung vị cũng dài hơn về mặt số học (41,0 so với 28,3 tháng) nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) tương ứng ở hai nhóm lần lượt là 52% và 32%.
Gianluca Ianiro (Khoa Y Dược, Đại học Công giáo Sacro Cuore, Rome, Ý) cùng các cộng sự ghi nhận rằng các biến cố bất lợi “strictly related to the experimental procedures occurred rarely” (tạm dịch: “liên quan chặt chẽ đến quy trình thử nghiệm hiếm khi xảy ra”). Cụ thể, một bệnh nhân ở nhánh giả dược xuất hiện tiêu chảy độ 2 sau nội soi đại tràng và một bệnh nhân khác bị viêm niêm mạc miệng độ 3 trong quá trình uống viên nang đông lạnh.
Các biến cố bất lợi từ độ 3 trở lên liên quan đến pembrolizumab và/hoặc axitinib xuất hiện ở 28% bệnh nhân nhóm FMT người hiến và 16% bệnh nhân nhóm giả dược.
Nghiên cứu FMT-LUMINate mở rộng lợi ích sang các thể ung thư khác
Bác sĩ Arielle Elkrief (Trung tâm Bệnh viện Đại học Montréal, Québec, Canada) cùng nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả trên 20 bệnh nhân NSCLC tiến xa (55% nam giới, tuổi trung vị 68 tuổi) và 20 bệnh nhân u hắc tố tiến xa (65% nam giới, tuổi trung vị 56 tuổi). Các bệnh nhân này đều được sử dụng một liều FMT duy nhất từ người hiến khỏe mạnh qua viên nang uống trước khi bắt đầu phác đồ bước một bằng thuốc ức chế PD-1 đơn trị liệu (đối với NSCLC) hoặc kết hợp thuốc ức chế CTLA-4 (đối với u hắc tố).
Tại thời điểm theo dõi trung vị 24 tháng, ORR ở nhóm NSCLC đạt 80%, vượt xa mốc 64% đặt ra ban đầu, “thereby, meeting the criteria for a positive study outcome” (tạm dịch: “qua đó đạt tiêu chuẩn đánh giá kết quả nghiên cứu dương tính”).
Tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 95%, tỷ lệ PFS và OS tại thời điểm 1 năm lần lượt đạt 65% và 100%.
Ở nhóm u hắc tố, cả ORR và DCR đều đạt 75%, với tỷ lệ PFS và OS tại thời điểm 1 năm lần lượt là 58% và 79%.
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng ORR ở cả hai nhóm NSCLC và u hắc tố đều vượt trội so với dữ liệu lịch sử (thường chỉ dao động trong khoảng 39–46% và 50–58%).
Nhóm tác giả cho biết: “This supports the potential of FMT to overcome primary resistance to ICI and will be assessed as part of the CanBiome2 randomized trial evaluating FMT (LND-101) in combination with ICI in 128 patients” (tạm dịch: “Kết quả này củng cố tiềm năng của FMT trong việc khắc phục tình trạng đề kháng tiên phát với ICI và sẽ tiếp tục được đánh giá trong thử nghiệm ngẫu nhiên CanBiome2 nhằm kiểm chứng FMT [LND-101] kết hợp ICI trên 128 bệnh nhân”).
Về độ an toàn, các biến cố bất lợi quy cho FMT xuất hiện ở 25% bệnh nhân NSCLC và 35% bệnh nhân u hắc tố, toàn bộ đều ở mức độ 1.
Không ghi nhận biến cố bất lợi từ độ 3 trở lên liên quan đến phác đồ kết hợp FMT và ICI ở nhóm NSCLC; tuy nhiên, ở nhóm u hắc tố có 60% bệnh nhân gặp biến cố độ 3 và 1 bệnh nhân (5%) gặp biến cố độ 4.
Elkrief và cộng sự nhận thấy tỷ lệ viêm cơ tim ở nhóm u hắc tố “a higher-than-expected” (tạm dịch: “cao hơn dự kiến”), ghi nhận ở mức 15% so với “an incidence of less than 1% in the literature” (tạm dịch: “tỷ lệ ghi nhận trong y văn dưới 1%”). Ban giám sát dữ liệu và an toàn của thử nghiệm đã phân loại đây là “an AE of special interest for monitoring in future FMT trials” (tạm dịch: “biến cố bất lợi cần đặc biệt lưu tâm theo dõi trong các thử nghiệm FMT tương lai”).
Nhóm nghiên cứu kết luận: “Nonetheless, our data provide strong evidence in favor of the efficacy of FMT in the context of immune checkpoint inhibition” (tạm dịch: “Dù vậy, dữ liệu của chúng tôi vẫn cung cấp bằng chứng thuyết phục ủng hộ hiệu quả của FMT khi kết hợp cùng các liệu pháp ức chế điểm kiểm soát miễn dịch”).