Các nhà nghiên cứu nhận định rằng nguy cơ tử vong tăng cao liên quan đến buồng thất trái quá nhỏ hoặc quá lớn nhiều khả năng xuất phát từ “distinct pathophysiological mechanisms” (tạm dịch: “các cơ chế sinh lý bệnh riêng biệt”), do đó “a comprehensive assessment of LV size and systolic function is essential for identifying high-risk subgroups.” (tạm dịch: “việc đánh giá toàn diện cả kích thước thất trái và chức năng tâm thu là thiết yếu để nhận diện các phân nhóm có nguy cơ cao.”)
Nhóm tác giả cho rằng việc đánh giá kích thước thất trái “should be integrated into routine risk stratification, challenging the conventional focus on ventricular dilation alone.” (tạm dịch: “cần được tích hợp vào quy trình phân tầng nguy cơ thường quy, thay vì chỉ tập trung đơn thuần vào tình trạng giãn thất như thông lệ.”)
TS. Jiefu Yang (Bệnh viện Bắc Kinh, Trung Quốc) cùng các cộng sự giải thích rằng: mặc dù các khuyến cáo suy tim hiện nay phân loại bệnh nhân dựa trên phân suất tống máu thất trái (LVEF), chỉ số này chủ yếu phản ánh chức năng tâm thu chứ chưa bao quát được toàn bộ quá trình tái cấu trúc hình học của tim.
Dựa trên dữ liệu từ Trung tâm Đăng ký Suy tim thuộc Hiệp hội Tim mạch Trung Quốc từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2022, nhóm nghiên cứu đã phân tích 273.921 bệnh nhân nhập viện vì suy tim có đo đường kính cuối tâm trương thất trái (LVEDD) qua siêu âm tim qua thành ngực. Tuổi trung vị của đoàn hệ là 71 tuổi và nam giới chiếm 59,0%.
Tỷ lệ người bệnh có kích thước thất trái bình thường (42,0–58,4 mm ở nam; 37,8–52,2 mm ở nữ) chiếm 55,9%; trong khi đó, 4,8% có thất trái nhỏ (<42,0 mm ở nam hoặc <37,8 mm ở nữ) và 39,3% có thất trái lớn (>58,4 mm ở nam hoặc >52,2 mm ở nữ).
Những bệnh nhân có thất trái nhỏ thường có xu hướng cao tuổi hơn (trung vị 75 tuổi) so với nhóm có thất trái bình thường hoặc thất trái lớn (trung vị lần lượt là 73 và 68 tuổi). Đánh giá chức năng cho thấy nhóm thất trái nhỏ có chức năng tâm thu bảo tồn và nồng độ NT-proBNP chỉ tăng nhẹ; trái lại, nhóm thất trái lớn có suy giảm chức năng tâm thu rõ rệt kèm nồng độ NT-proBNP tăng rất cao.
Trong tổng thời gian theo dõi 581.495 người–năm, tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân trên 1.000 người–năm ở nhóm thất trái nhỏ và lớn lần lượt là 111,6 và 140,8; cao hơn đáng kể so với mức 93,9 ở nhóm thất trái bình thường.
Sau khi hiệu chỉnh hàng loạt biến số bao gồm tuổi, giới tính, tiền sử hút thuốc, sử dụng rượu bia, BMI, các bệnh đồng mắc và thuốc điều trị, tình trạng thất trái nhỏ hoặc lớn—so với kích thước bình thường—làm tăng có ý nghĩa thống kê nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, với mức tăng tương ứng là 32% và 38%.
Xét riêng tử vong do nguyên nhân tim mạch, nguy cơ gia tăng tương ứng là 22% ở nhóm thất trái nhỏ và 54% ở nhóm thất trái lớn.
Trên tạp chí JAMA Cardiology, các tác giả lưu ý rằng dù phân nhóm kiểu hình thất trái nhỏ ít gặp hơn so với thất trái lớn, đây vẫn “represents a substantial and clinically significant population given the rising global prevalence of HF.” (tạm dịch: “đại diện cho một quần thể bệnh nhân đáng kể và có ý nghĩa lâm sàng lớn trong bối cảnh tỷ lệ hiện mắc suy tim trên toàn cầu ngày càng gia tăng.”)
Ngoài ra, bên cạnh việc bất thường đường kính thất trái kết hợp giảm LVEF đi liền với nguy cơ tử vong cao nhất, nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân và do tim mạch cũng tăng lần lượt 26% và 36% ở 5,6% bệnh nhân có thất trái lớn nhưng EF vẫn bảo tồn.
Phát hiện này đã nêu bật “a frequently overlooked clinical entity, namely isolated LV dilation” (tạm dịch: “một thực thể lâm sàng thường bị bỏ sót, đó là tình trạng giãn thất trái đơn độc”), đồng thời các tác giả nhấn mạnh: “[c]linicians should evaluate reversible causes but also recognize that LV dilation itself—even with normal EF—warrants attention in risk stratification.” (tạm dịch: “các bác sĩ lâm sàng cần đánh giá các nguyên nhân có thể đảo ngược, song cũng phải nhận thức rằng bản thân tình trạng giãn thất trái—ngay cả khi EF bình thường—vẫn cần được đặc biệt chú ý khi phân tầng nguy cơ.”)
Nhóm nghiên cứu đã ước tính ngưỡng LVEDD tối ưu theo giới là 47 mm ở nam và 43 mm ở nữ; mỗi độ lệch 1 mm so với các mốc này đều liên quan đến sự gia tăng có ý nghĩa nguy cơ tử vong, dù các giá trị này cần tiếp tục được xác thực qua các nghiên cứu tiến cứu.
Nghiên cứu cũng ghi nhận tuổi tác có tác động rõ rệt lên kích thước thất trái. Mặc dù có “substantially lower absolute mortality” (tạm dịch: “tỷ lệ tử vong tuyệt đối thấp hơn đáng kể”), nhóm bệnh nhân trẻ tuổi (18–49 tuổi) có thất trái nhỏ hoặc lớn lại chịu mức tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân cao nhất, lần lượt là 79% và 77%; trong khi mức tăng này ở nhóm từ 80 tuổi trở lên có phần giảm nhẹ nhưng vẫn duy trì ý nghĩa thống kê, tương ứng là 21% và 23%.
TS. Yang cùng các cộng sự thừa nhận rằng thể tích cuối tâm trương thất trái (LVEDV) là một chỉ số “superior” (tạm dịch: “vượt trội hơn”) trong đánh giá kích thước buồng thất so với LVEDD; tuy nhiên, biến số này chưa được thu thập trong nghiên cứu. Vì vậy, nhóm tác giả khuyến nghị các nghiên cứu tiếp theo cần sử dụng các phép đo thể tích để tái khẳng định kết quả, cũng như theo dõi những thay đổi động học của kích thước thất trái theo thời gian.
Các tác giả kết luận: “LV dimension is a vital prognostic indicator and a marker of adverse cardiac remodeling, underscoring its significance in risk stratification and its emerging role as a potential metric for evaluating treatment responses.” (tạm dịch: “kích thước thất trái là một chỉ số tiên lượng trọng yếu và là dấu ấn của quá trình tái cấu trúc tim bất lợi, khẳng định tầm quan trọng của thông số này trong phân tầng nguy cơ cũng như vai trò mới nổi như một thước đo tiềm năng để đánh giá đáp ứng điều trị.”)