Nghiên cứu ghi nhận nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) tăng rõ rệt ở những phụ nữ đang sử dụng estradiol đường uống trong liệu pháp hormone mãn kinh. Trong khi đó, nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ và nhồi máu cơ tim chỉ tăng có ý nghĩa thống kê ở nhóm dùng estradiol đường uống liều cao kéo dài trên 1 năm.
Đáng chú ý, liệu pháp hormone hấp thu qua da không cho thấy mối liên quan đáng kể với bất kỳ biến cố huyết khối nào, bất kể hoạt chất, liều lượng hay thời gian sử dụng.
Tác giả Julie Berggreen (Trung tâm Đái tháo đường Steno, Copenhagen, Đan Mạch) cùng các cộng sự nhận định: “These insights may inform clinical practice, guiding clinicians and patients in making evidence based decisions to minimise thrombotic risk of hormone therapy” (tạm dịch: “Những phát hiện này mang ý nghĩa định hướng thực hành lâm sàng quan trọng, hỗ trợ các bác sĩ và bệnh nhân đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ thuyên tắc huyết khối khi chỉ định liệu pháp hormone”).
Nhóm nghiên cứu cho biết đề tài này được thực hiện nhằm lấp đầy “critical knowledge gaps” (tạm dịch: “những khoảng trống kiến thức trọng yếu”) về ảnh hưởng tim mạch của các liệu pháp hormone mãn kinh hiện hành, đặc biệt trong bối cảnh “the increasing life expectancy and the rising number of postmenopausal women” (tạm dịch: “tuổi thọ kỳ vọng ngày càng tăng cùng số lượng phụ nữ sau mãn kinh ngày một nhiều”).
Dựa trên cơ sở dữ liệu y tế quốc gia Đan Mạch, các nhà nghiên cứu đã theo dõi nhóm phụ nữ trong độ tuổi 50–69 với thời gian trung vị 9 năm, xác định các trường hợp lần đầu xuất hiện biến cố VTE (n=9.807), đột quỵ thiếu máu cục bộ (n=18.460) hoặc nhồi máu cơ tim (n=11.974). Những bệnh nhân này được ghép cặp tương ứng theo độ tuổi với nhóm chứng không gặp biến cố huyết khối (lần lượt n=49.035, 92.300 và 59.870).
Tỷ lệ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tăng đáng kể ở nhóm đang sử dụng liệu pháp hormone đường uống, với tỷ số nguy cơ (HR) là 1,6; tương đương mức tăng nguy cơ tuyệt đối 0,09%/năm. Sự gia tăng nguy cơ này được ghi nhận ở tất cả các phác đồ đường uống (estrogen đơn thuần, phối hợp liên tục, phối hợp theo chu kỳ) khi so với nhóm không sử dụng, cũng như trên hầu hết các phân nhóm progestin. Ngoại lệ duy nhất là phác đồ estradiol phối hợp levonorgestrel đường uống, tuy nhiên các tác giả lưu ý rằng khoảng tin cậy của mối liên quan này còn khá rộng.
Trong số những phụ nữ dùng liệu pháp hormone, nhóm sử dụng estradiol đường uống liều cao (>1 mg/ngày) có nguy cơ VTE cao hơn rõ rệt so với nhóm dùng liều thấp (≤1 mg/ngày), với HR là 1,3 có ý nghĩa thống kê.
Tương tự, tỷ lệ đột quỵ thiếu máu cục bộ và nhồi máu cơ tim cũng tăng đáng kể ở nhóm dùng liệu pháp hormone đường uống so với nhóm không sử dụng, với HR lần lượt là 1,3 và 1,2; tương ứng mức tăng nguy cơ tuyệt đối mỗi năm là 0,06% và 0,03%.
Tuy nhiên, phân tích sâu hơn cho thấy nguy cơ này chỉ khu trú ở những phụ nữ dùng estradiol đường uống liều cao: đối với đột quỵ thiếu máu cục bộ, HR lần lượt là 1,5 so với nhóm không dùng và 1,5 so với nhóm dùng liều thấp; đối với nhồi máu cơ tim, HR lần lượt là 1,4 và 1,5.
Ngược lại, các phác đồ dùng qua da nhìn chung không làm tăng nguy cơ biến cố huyết khối. Ngoại lệ duy nhất là nguy cơ nhồi máu cơ tim có xu hướng tăng ở phác đồ phối hợp theo chu kỳ qua da; tuy vậy, nhóm nghiên cứu cũng lưu ý cỡ mẫu dữ liệu cho phác đồ này còn khá hạn chế.
Nhóm tác giả lý giải: “Transdermal use bypasses the hepatic first pass metabolism which is thought to increase the hepatic synthesis of prothrombotic factors, providing a plausible explanation for the different risk profiles between oral and transdermal formulations” (tạm dịch: “Đường dùng qua da không qua chuyển hóa bước đầu tại gan – một quá trình được cho là kích thích gan tăng tổng hợp các yếu tố tiền đông máu; điều này giải thích hợp lý cho sự khác biệt về mức độ nguy cơ giữa dạng thuốc uống và dạng dùng qua da”).
Thời gian điều trị cũng là yếu tố tác động trực tiếp đến nguy cơ huyết khối. Đối với thuyên tắc tĩnh mạch, nguy cơ cao nhất được ghi nhận ngay trong năm đầu tiên sử dụng estradiol đường uống liều cao, với HR lên tới 3,2 so với nhóm không dùng. Trong khi đó, nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ và nhồi máu cơ tim chỉ tăng rõ rệt khi người bệnh sử dụng estradiol liều cao kéo dài lần lượt trên 1 năm và trên 5 năm (HR tương ứng 1,4 và 1,8), đồng thời nguy cơ này có xu hướng tỷ lệ thuận với thời gian dùng thuốc.
Nguy cơ biến cố huyết khối liên quan đến liệu pháp hormone mãn kinh tồn tại ở mọi nhóm tuổi. Tuy nhiên, đối với đột quỵ thiếu máu cục bộ và nhồi máu cơ tim, nguy cơ cao nhất lại rơi vào nhóm phụ nữ bắt đầu điều trị trước 50 tuổi, với HR cùng đạt 1,5 so với nhóm không dùng hormone. Mối liên quan này vẫn được duy trì sau khi đã phân tầng theo liều estradiol và thời gian điều trị.
Bình luận về các kết quả này trong một bài xã luận đi kèm, TS. Amani Meaidi (Bệnh viện Nordsjællands, Hillerød, Đan Mạch), trưởng nhóm nghiên cứu, nhấn mạnh rằng kết quả “do not support describing menopausal hormone therapy as simply safe or unsafe; the results instead suggest that there is no single risk profile for hormone therapy” (tạm dịch: “không ủng hộ việc đánh giá liệu pháp hormone mãn kinh một cách đơn giản là an toàn hay không an toàn; các kết quả thay vào đó chỉ ra rằng không có một mô hình nguy cơ chung duy nhất nào cho liệu pháp hormone”).
Bà bổ sung thêm: “Risk may depend on the therapy prescribed, the method of use, the dosage, and duration of treatment” (tạm dịch: “Mức độ nguy cơ phụ thuộc cụ thể vào phác đồ chỉ định, đường dùng, liều lượng và thời gian điều trị”).
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng yếu tố nguy cơ tim mạch cá thể hóa, bao gồm cả độ tuổi bắt đầu mãn kinh (vốn chưa được thu thập đầy đủ trong nghiên cứu này), cũng là những biến số lâm sàng quan trọng cần được cân nhắc.