Trong bài báo công bố trên tạp chí JAMA Network Open, TS. Lindsay Fourman và các cộng sự tại Trường Y Harvard (Boston, Massachusetts) cho biết “rise was entirely driven by inclusion of individuals with anthropometric-only obesity, defined as having at least 2 elevated anthropometric measures despite a nonelevated BMI” (tạm dịch: “sự gia tăng này hoàn toàn xuất phát từ việc tính thêm nhóm béo phì đơn thuần theo nhân trắc học, được định nghĩa là có ít nhất 2 chỉ số nhân trắc học vượt ngưỡng dù chỉ số BMI không tăng”).
Nhóm tác giả phân tích rằng Ủy ban Lancet gần đây đã đề xuất một định nghĩa béo phì mới, kết hợp các chỉ số nhân trắc học và/hoặc phép đo trực tiếp khối lượng mỡ cơ thể nhằm giúp phân tầng và nhận diện tình trạng dư thừa mô mỡ chuẩn xác hơn.
Nhóm nghiên cứu nhận định: “[T]his guideline has already been endorsed by at least 76 professional organizations, marking a significant shift in how obesity will be conceptualized and classified” (tạm dịch: “hướng dẫn này đã được ít nhất 76 tổ chức chuyên môn công nhận, đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong cách định nghĩa và phân loại bệnh béo phì”).
Bộ tiêu chuẩn mới bao gồm ba mô tả song song về béo phì:
Các ngưỡng giá trị cho từng phép đo được xác định riêng theo giới tính và/hoặc chủng tộc, tuân theo các quy ước từ WHO và Ủy ban Lancet.
Nhằm làm rõ tác động lâm sàng của định nghĩa mới, Fourman cùng cộng sự đã phân tích dữ liệu từ 301.026 cá thể thuộc đoàn hệ All of Us (độ tuổi trung vị 54, 61% là nữ) được thu nhận từ năm 2017 đến 2023.
Trong số này, tỷ lệ béo phì theo tiêu chuẩn BMI truyền thống là 42,9%, nhưng tăng lên tới 68,6% khi áp dụng định nghĩa mới—tương ứng mức tăng tương đối gần 60%.
Đáng chú ý, 99,8% người béo phì theo định nghĩa truyền thống cũng đồng thời thỏa mãn tiêu chuẩn béo phì phối hợp (BMI kết hợp nhân trắc học). Chỉ 0,2% còn lại không còn đủ tiêu chuẩn do có BMI cao nhưng không ghi nhận bất thường về các số đo nhân trắc học.
Trong số 78.047 cá thể béo phì đơn thuần theo nhân trắc học, có 22,3% sở hữu mức BMI vốn được phân loại kinh điển là bình thường hoặc nhẹ cân; số còn lại nằm trong nhóm thừa cân.
Bên cạnh đó, hướng dẫn mới còn phân tầng bệnh nhân béo phì thành hai nhóm: béo phì lâm sàng (clinical obesity) và béo phì tiền lâm sàng (preclinical obesity), căn cứ vào sự hiện diện của rối loạn chức năng cơ quan và/hoặc hạn chế vận động thể chất.
Theo phân loại này, có 36,1% toàn bộ đoàn hệ và 52,7% những người béo phì được xác định mắc béo phì lâm sàng; trong đó tăng huyết áp, hạn chế vận động thể chất và hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn là các biểu hiện thường gặp nhất. Tỷ lệ này tương đương giữa nam và nữ nhưng tăng dần theo tuổi, từ 8,5% ở nhóm 18–29 tuổi (36.396 đối tượng) lên tới 54,4% ở nhóm từ 70 tuổi trở lên (45.018 đối tượng).
Các nhà nghiên cứu cũng đánh giá tác động dài hạn của béo phì qua thời gian theo dõi trung vị 4 năm. Kết quả cho thấy sau khi hiệu chỉnh theo tuổi, giới tính và chủng tộc, nhóm béo phì phối hợp (BMI kết hợp nhân trắc học) có tỷ suất chênh (odds) mắc rối loạn chức năng cơ quan cao gấp 3,31 lần; trong khi nhóm béo phì đơn thuần theo nhân trắc học có nguy cơ cao gấp 1,76 lần so với người không béo phì.
Fourman cùng các đồng nghiệp viết: “These findings support the new definition of obesity by identifying individuals with anthropometric-only obesity as having a heightened risk of adverse health outcomes” (tạm dịch: “Những phát hiện này củng cố tính chuẩn xác của định nghĩa béo phì mới, khẳng định rằng nhóm béo phì đơn thuần theo nhân trắc học là những đối tượng có nguy cơ cao gặp các biến cố bất lợi về sức khỏe”).
Thêm vào đó, béo phì lâm sàng làm tăng nguy cơ mắc mới đái tháo đường, biến cố tim mạch và tử vong do mọi nguyên nhân lần lượt gấp 6,11; 5,88 và 2,71 lần so với nhóm không béo phì và không có rối loạn chức năng cơ quan. Ở nhóm béo phì tiền lâm sàng, nguy cơ mắc mới đái tháo đường và biến cố tim mạch cũng gia tăng dù ở mức độ thấp hơn (lần lượt gấp 3,32 và 1,40 lần), trong khi nguy cơ tử vong chưa ghi nhận sự khác biệt.
Sau cùng, nhóm nghiên cứu đã đánh giá tác động của hướng dẫn mới—vốn “recommends pharmacologic therapy for all individuals with clinical obesity and select individuals with preclinical obesity” (tạm dịch: “khuyến cáo điều trị bằng thuốc cho tất cả các đối tượng béo phì lâm sàng và một số trường hợp béo phì tiền lâm sàng có chọn lọc”)—đối với tiêu chuẩn tiếp cận thuốc điều trị béo phì.
Họ ghi nhận rằng 51,2% trong số 111.467 người đủ tiêu chuẩn dùng thuốc theo chỉ định BMI truyền thống thực chất không có béo phì lâm sàng, do đó có thể không còn nằm trong diện ưu tiên điều trị; ngược lại, 22,2% trong số 69.894 cá thể béo phì lâm sàng theo định nghĩa mới lại chưa đáp ứng các tiêu chuẩn chỉ định thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 (glucagon-like peptide-1) hiện hành.
TS. Fourman và cộng sự nhấn mạnh: “Thus, implementation of the new framework may have significant ramifications for patients, including existing GLP-1 [receptor agonist] users, and creates a compelling need to evaluate use of antiobesity medications within this redefined target population” (tạm dịch: “Vì vậy, việc áp dụng khung phân loại mới có thể tạo ra những thay đổi mang tính bước ngoặt đối với bệnh nhân, bao gồm cả những người đang dùng thuốc đồng vận thụ thể GLP-1, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị béo phì trên nhóm quần thể mục tiêu vừa được định nghĩa lại này”).
Các tác giả kết luận: “Our findings support inclusion of anthropometric-only obesity within the new obesity definition and affirm the value of clinical obesity in identifying individuals at highest risk of adverse health outcomes” (tạm dịch: “Kết quả của chúng tôi ủng hộ việc đưa nhóm béo phì đơn thuần theo nhân trắc học vào định nghĩa béo phì mới, đồng thời khẳng định giá trị của phân nhóm béo phì lâm sàng trong việc xác định những cá nhân có nguy cơ cao nhất đối với các kết cục sức khỏe bất lợi”).
Nhóm nghiên cứu bổ sung: “At the same time, our results highlight critical gaps in knowledge regarding anthropometric-only obesity, preclinical obesity, and the shifting target population for obesity pharmacotherapy, underscoring the need for further research to inform evidence-based care of these groups” (tạm dịch: “Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra những khoảng trống kiến thức trọng yếu liên quan đến béo phì đơn thuần theo nhân trắc học, béo phì tiền lâm sàng và sự dịch chuyển quần thể đích trong điều trị nội khoa, qua đó nhấn mạnh nhu cầu thực hiện thêm các nghiên cứu nhằm định hướng chăm sóc dựa trên y học thực chứng cho các nhóm bệnh nhân này”).