Phát hiện này “contradicts the long-term belief that IV iron worsens acute infection outcomes” (tạm dịch: “đi ngược lại hoàn toàn với quan niệm cố hữu lâu nay rằng sắt truyền tĩnh mạch làm trầm trọng thêm tiên lượng nhiễm trùng cấp”), theo báo cáo của tác giả Haris Sohail (Trung tâm Y khoa Charleston Area, West Virginia, Hoa Kỳ) tại Hội nghị & Triển lãm Thường niên lần thứ 67 của Hiệp hội Huyết học Hoa Kỳ (ASH) diễn ra tại Orlando, Florida.

Bác sĩ Sohail nhận định thêm: “While prospective trials are needed, our data suggest that withholding IV iron solely due to infection is likely unnecessary, especially in patients who have profound anemia.” (tạm dịch: “Mặc dù vẫn cần tiến hành thêm các thử nghiệm tiến cứu, dữ liệu của chúng tôi gợi ý rằng việc trì hoãn sắt tĩnh mạch chỉ đơn thuần vì tình trạng nhiễm trùng dường như không cần thiết, đặc biệt trên những bệnh nhân thiếu máu mức độ nặng”).

Lý giải về bối cảnh nghiên cứu, tác giả chia sẻ rằng dù tình trạng thiếu máu thiếu sắt rất phổ biến ở bệnh nhân nội trú có kèm nhiễm trùng, “guidelines offer no clear recommendations” (tạm dịch: “các hướng dẫn thực hành hiện nay vẫn chưa có khuyến cáo rõ ràng”), và “most of the clinicians avoid IV iron” (tạm dịch: “đa số bác sĩ lâm sàng đều chủ động tránh dùng sắt tĩnh mạch”) xuất phát từ “the belief that ‘iron feeds bacteria’” (tạm dịch: “quan niệm cho rằng ‘sắt nuôi vi khuẩn’”).

Để giải quyết nút thắt còn nhiều tranh cãi này, nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ Mạng lưới Nghiên cứu TriNetX trên hơn 85.000 người trưởng thành thiếu máu thiếu sắt nhập viện do nhiễm khuẩn cấp tính—bao gồm nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA), viêm phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu (UTI), viêm đại tràng, viêm mô tế bào hoặc viêm màng não mủ—trong giai đoạn 2000–2024.

Trong từng phân nhóm nhiễm khuẩn, những bệnh nhân được chỉ định sắt tĩnh mạch được ghép cặp điểm xu hướng (propensity score matching) với nhóm không dùng sắt dựa trên độ tuổi, nhân khẩu học, bệnh đồng mắc và các thông số xét nghiệm. Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu dao động từ 59,2 đến 66,2 tuổi; 61–66% là người da trắng và 20–25% là người da đen. Tỷ lệ nam giới chiếm đa số (40–48%) ở hầu hết các phân nhóm nhiễm khuẩn, ngoại trừ nhóm nhiễm khuẩn tiết niệu chỉ có 32–33% là nam.

Kết quả phân tích theo từng thể nhiễm khuẩn cho thấy nguy cơ tử vong trong 14 ngày giảm có ý nghĩa thống kê ở nhóm dùng sắt tĩnh mạch so với nhóm chứng, với tỷ số nguy cơ (HR) lần lượt là 0,48 (nhiễm khuẩn huyết do MRSA); 0,50 (viêm phổi); 0,56 (nhiễm khuẩn tiết niệu); 0,52 (viêm đại tràng) và 0,55 (viêm mô tế bào).

Hiệu quả bảo vệ này tiếp tục duy trì bền vững tại thời điểm 90 ngày, với các HR tử vong tương ứng ghi nhận ở mức 0,67; 0,66; 0,73; 0,60 và 0,70.

Tác giả Sohail lưu ý rằng nghiên cứu chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sắt tĩnh mạch và việc giảm nguy cơ tử vong ở nhóm viêm màng não mủ, tuy nhiên hiện tượng này “likely due to a smaller cohort and the disease being too aggressive.” (tạm dịch: “nhiều khả năng do cỡ mẫu ở nhóm này còn hạn chế và diễn tiến bệnh cảnh quá mức ác tính”).

Cải thiện tích cực trên các tiêu chí lâm sàng thứ phát

Bên cạnh lợi ích sống còn, việc bù sắt qua đường tĩnh mạch còn giúp đẩy nhanh tốc độ phục hồi hemoglobin. Mức cải thiện Hb ở nhóm có dùng sắt tĩnh mạch vượt trội hơn hẳn so với nhóm không sử dụng tại cả hai thời điểm ngày 14 và ngày 60–90, trên tất cả các bệnh cảnh nhiễm khuẩn ngoại trừ viêm màng não.

Nhà nghiên cứu nhấn mạnh: “The magnitude of hemoglobin increase with IV iron consistently exceeded +1.2 g/dL” (tạm dịch: “Mức tăng nồng độ hemoglobin ở nhóm sử dụng sắt tĩnh mạch liên tục vượt ngưỡng +1,2 g/dL”), trong khi ở nhóm không dùng sắt tĩnh mạch, chỉ số này chỉ tăng dao động trong khoảng khiêm tốn từ +0,7 g/dL đến +1,0 g/dL.

Ngoài ra, nhu cầu chỉ định truyền khối hồng cầu ở nhóm bệnh nhân được bổ sung sắt tĩnh mạch cũng giảm đi rõ rệt so với nhóm chứng trên tất cả các đoàn hệ theo dõi.