Tiến sĩ John Damianos cùng các cộng sự tại Mayo Clinic (Rochester, Minnesota) nhận định kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng quá phát vi sinh vật “should be considered as a cause for persistent symptoms in patients with [celiac disease]” (tạm dịch: “cần được xem là một nguyên nhân tiềm tàng gây ra các triệu chứng dai dẳng ở bệnh nhân mắc bệnh celiac”).
Dựa trên dữ liệu hồ sơ bệnh án điện tử giai đoạn 2021–2023, nhóm nghiên cứu đã ghi nhận 256 bệnh nhân celiac (độ tuổi trung vị 45, 75% là nữ) từng được làm xét nghiệm chẩn đoán quá phát vi sinh vật bằng phương pháp cấy dịch hút ruột non hoặc nghiệm pháp thở với glucose (n=36) hay lactulose (n=3).
Báo cáo trên tạp chí npj Gut and Liver cho thấy 17,6% bệnh nhân dương tính với SIBO ở ngưỡng chẩn đoán từ 105 CFU/mL trở lên, và tỷ lệ này tăng lên mức 49,6% nếu áp dụng ngưỡng thấp hơn từ 103 CFU/mL trở lên.
Tuy vậy, các tác giả cũng thừa nhận tỷ lệ hiện mắc này có thể cao hơn so với thực tế trong quần thể chung do nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm y tế tuyến cuối chuyên sâu, nơi tập trung nhiều bệnh nhân có triệu chứng kéo dài, không đáp ứng điều trị hoặc mắc bệnh celiac thể trơ.
Ngoài ra, tình trạng quá phát nấm ruột non (SIFO, ngưỡng ≥103 CFU/mL) được phát hiện ở 4,3% trường hợp, trong đó có 45,5% ca đồng mắc SIBO.
Nhóm nghiên cứu của Damianos không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa SIBO và điểm số Marsh từ mẫu sinh thiết niêm mạc lấy tại thời điểm nội soi cấy dịch ruột. Điều này cho thấy “that patients with more advanced [celiac disease] are not at higher risk of SIBO; therefore, SIBO testing should be considered among [celiac disease] patients at any point in their disease with ongoing symptoms” (tạm dịch: “bệnh nhân mắc celiac ở giai đoạn tiến triển nặng không đồng nghĩa với việc có nguy cơ mắc SIBO cao hơn; do đó, nên cân nhắc tầm soát SIBO ở bất kỳ giai đoạn nào của bệnh nếu người bệnh vẫn còn triệu chứng dai dẳng”).
Dù vậy, các tác giả cũng lưu ý rằng chỉ có 29,9% bệnh nhân có điểm Marsh từ 2 trở lên, điều này có thể hạn chế khả năng ngoại suy kết quả do phần lớn bệnh nhân đã đạt được tình trạng lành niêm mạc tại thời điểm đánh giá.
Mặc dù không có mối liên quan giữa phân độ Marsh và SIBO, kết quả cho thấy nhóm bệnh nhân celiac thể trơ (n=19) có tỷ lệ mắc SIBO cao hơn rõ rệt so với nhóm không trơ (n=237), xét ở cả ngưỡng vi khuẩn cao (36,8% so với 16,0%) lẫn ngưỡng vi khuẩn thấp (78,9% so với 47,3%).
Trong số 39 bệnh nhân được thực hiện nghiệm pháp thở, 23,1% có kết quả dương tính với quá phát vi sinh vật; trong đó 2/3 trường hợp tăng đơn độc nồng độ methane, và 1/3 trường hợp tăng đồng thời cả hydrogen và methane.
Về phân lập vi sinh, các tác giả nhận xét các chủng vi khuẩn phát hiện ở bệnh nhân SIBO “consistent with the types of bacteria found in sequencing studies as causative of SIBO, including an overabundance of members of the family Enterobacteriaceae and the so-called ‘disruptor taxa’ such as Klebsiella and Escherichia” (tạm dịch: “hoàn toàn phù hợp với các chủng vi khuẩn gây SIBO từng được ghi nhận trong các nghiên cứu giải trình tự gen, bao gồm sự áp đảo của các thành viên họ Enterobacteriaceae cùng các vi khuẩn gây rối loạn hệ vi sinh như Klebsiella và Escherichia”).
Nhóm nghiên cứu kết luận: “Future studies should prospectively evaluate the risk of [microbial overgrowth] at the time of diagnosis and throughout the disease course, determine the optimal diagnostic modality, take into account potential confounders and predictors, and assess response to treatment” (tạm dịch: “Các nghiên cứu tương lai cần theo dõi tiến cứu để đánh giá nguy cơ quá phát vi sinh vật ngay từ thời điểm chẩn đoán cũng như xuyên suốt diễn tiến bệnh, xác định phương pháp chẩn đoán tối ưu, kiểm soát các yếu tố gây nhiễu và yếu tố dự báo, đồng thời đánh giá đáp ứng sau điều trị”).