Phân tích do TS. Peter Ueda (Viện Karolinska, Stockholm, Thụy Điển) cùng các cộng sự thực hiện đã theo dõi 322.597 liệu trình điều trị bằng thuốc ức chế SGLT2 trên 282.282 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 (độ tuổi trung bình 63 tuổi, 64% là nam giới) tại Đan Mạch, Thụy Điển và Na Uy trong giai đoạn 2013–2022. Trong đó, empagliflozin là hoạt chất được sử dụng phổ biến nhất (chiếm 65,8%), tiếp theo là dapagliflozin (32,6%).
Công bố trên tạp chí The Lancet Diabetes & Endocrinology cho thấy, sau thời gian theo dõi trung vị 1,3 năm, nhóm nghiên cứu đã ghi nhận 1.452 biến cố toan ceton, tương ứng với tỷ lệ mới mắc là 2,43 ca trên 1.000 bệnh nhân–năm.
Tỷ lệ mới mắc đạt đỉnh trong 180 ngày đầu điều trị nhưng nguy cơ vẫn duy trì trong suốt thời gian theo dõi sau đó, với tỷ số tỷ lệ mới mắc (IRR) ở các giai đoạn 180 ngày tiếp theo dao động từ 0,51 đến 0,71.
Nhóm tác giả nhấn mạnh: “Risk factors should therefore be assessed not only at treatment initiation, but throughout treatment” (tạm dịch: “Do đó, các yếu tố nguy cơ cần được đánh giá không chỉ ở thời điểm bắt đầu dùng thuốc mà phải xuyên suốt toàn bộ quá trình điều trị”).
Nhiều yếu tố nền ở người bệnh làm gia tăng đáng kể nguy cơ toan ceton
Phân tích bệnh chứng lồng ghép trên 1.428 bệnh nhân xuất hiện biến cố toan ceton (được ghép cặp theo tuổi, giới tính và các yếu tố khác với 14.233 lượt bệnh nhân dùng thuốc ức chế SGLT2 nhưng không phát triển biến cố) chỉ ra rằng HbA1c tăng cao là yếu tố nguy cơ mạnh nhất. Cụ thể, mức HbA1c từ 9,7% (83 mmol/mol) trở lên có tỷ số chênh (OR) là 15,4 so với mức HbA1c từ 6,9% (52 mmol/mol) trở xuống.
Các yếu tố nguy cơ quan trọng khác bao gồm suy dinh dưỡng (OR = 10,5), tiền sử toan ceton (OR = 10,4), chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp (<20 kg/m2 so với mức 20 đến <25 kg/m2: OR = 10,0), hạ đường huyết trong vòng một năm trước đó (OR = 5,2), bệnh thận giai đoạn cuối (OR = 4,9), lạm dụng rượu (OR = 4,1), viêm tụy hoặc bệnh lý tuyến tụy mức độ nặng (OR = 3,9).
Các yếu tố khởi kích thoáng qua cũng làm tăng nguy cơ biến cố
Nhóm nghiên cứu cũng khảo sát các yếu tố phơi nhiễm thoáng qua trong vòng 30 ngày trước hoặc ngay tại ngày xảy ra biến cố—những yếu tố có thể đóng vai trò là tác nhân khởi kích hoặc bệnh cảnh đồng mắc liên quan đến sự gia tăng toan ceton.
Nhiễm trùng là tác nhân thường gặp nhất, hiện diện ở 31,8% các trường hợp toan ceton so với 6,1% ở nhóm chứng, tương ứng với OR là 7,60.
Đáng chú ý, các yếu tố có mối liên quan mạnh mẽ nhất bao gồm ngộ độc rượu (OR = 50,0), biến cố thận cấp (OR = 34,4), đau bụng cấp (OR = 32,1), đột quỵ (OR = 23,3) và đại phẫu (OR = 14,4).
TS. Ueda và cộng sự nhận định: “[t]hese findings support increased risk during acute illness or stress and reinforce recommendations to pause SGLT2 inhibitor treatment in such situations” (tạm dịch: “Những phát hiện này củng cố bằng chứng về nguy cơ gia tăng trong các đợt bệnh cấp tính hoặc tình trạng stress chuyển hóa, đồng thời củng cố khuyến cáo tạm ngừng thuốc ức chế SGLT2 trong các tình huống này”), nhưng nhóm tác giả cũng lưu ý: “associations for some transient exposures, particularly milder conditions, might have been overestimated because of under-registration among controls” (tạm dịch: “mối liên quan của một số phơi nhiễm thoáng qua, nhất là các tình trạng nhẹ hơn, có thể đã bị ước tính quá mức do việc ghi nhận chưa đầy đủ ở nhóm chứng”).
Nhóm nghiên cứu cũng nêu rõ: “[e]xploratory analyses suggested that the observed associations were largely general to patients with type 2 diabetes rather than specific to SGLT2 inhibitor use” (tạm dịch: “Các phân tích thăm dò cho thấy những mối liên quan ghi nhận được nhìn chung mang tính phổ quát ở quần thể đái tháo đường típ 2 hơn là chỉ đặc thù riêng cho việc sử dụng thuốc ức chế SGLT2”).
Tỷ lệ tử vong cao nhất trong những tuần đầu sau biến cố
Tính chung trong thời gian theo dõi trung vị 1,4 năm, có 274 trên tổng số 1.428 bệnh nhân toan ceton tử vong (chiếm 19,2%). Nhóm nghiên cứu quan sát thấy tỷ lệ tử vong cao nhất xảy ra trong giai đoạn ngắn ngay sau đợt toan ceton, vượt quá 10% “within the first weeks” (tạm dịch: “trong những tuần đầu tiên”); dù vậy, các tác giả thừa nhận không phải mọi trường hợp tử vong đều hoàn toàn do toan ceton bởi bệnh nhân thường đồng mắc các tình trạng cấp tính nặng khác.
TS. Ueda và cộng sự kết luận: “Our findings might inform risk–benefit assessments, identify those at high risk of ketoacidosis, and potentially support safer use of SGLT2 inhibitors” (tạm dịch: “Các phát hiện của chúng tôi có thể cung cấp thêm cơ sở cho việc đánh giá cân bằng lợi ích – nguy cơ, giúp nhận diện các đối tượng có nguy cơ cao toan ceton, từ đó thúc đẩy việc sử dụng thuốc ức chế SGLT2 an toàn hơn trên lâm sàng”).