Dữ liệu theo dõi qua bốn mùa dịch cúm vừa được tác giả Maddi Olazábal (Bệnh viện Đại học Navarra) báo cáo tại Hội nghị ESCMID Global 2026 tổ chức ở Munich, Đức, đồng thời được công bố trên tạp chí Clinical Microbiology and Infection.

Nhóm tác giả Olazábal và cộng sự nhận định: “These results lead to relevant implications” (tạm dịch: “Những kết quả này mang lại nhiều hàm ý lâm sàng quan trọng”). Việc đánh giá thấp tỷ lệ tử vong liên quan đến cúm đồng nghĩa với việc “the impact of influenza vaccines in preventing deaths could be higher than previously estimated” (tạm dịch: “hiệu quả giảm tỷ lệ tử vong của vắc-xin cúm trên thực tế có thể cao hơn nhiều so với dự đoán trước đây”).

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát 5.611 trường hợp tử vong do nguyên nhân tự nhiên tại vùng Navarra trong giai đoạn từ mùa dịch 2016/2017 đến 2019/2020 – con số này cao hơn 12,4% so với kỳ vọng dựa trên mức tử vong trung bình ngày giai đoạn 2017–2019. Độ tuổi trung bình là 85 tuổi, trong đó nữ giới chiếm 49,6% và 14,9% là người cao tuổi đang sinh hoạt tại các cơ sở chăm sóc dài hạn.

Nhóm tác giả đã tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm dịch tỵ hầu và dịch họng sau tử vong để xét nghiệm cúm A, cúm B cùng một bảng đa tác nhân virus hô hấp khác.

Trong số 857 mẫu tử thiết đủ tiêu chuẩn đánh giá, có 36,4% trường hợp dương tính với ít nhất một loại virus đường hô hấp, trong đó 10,9% mang tình trạng đồng nhiễm. Các tác nhân được phân lập phổ biến nhất gồm rhinovirus (11,4%), virus cúm (11,0%), coronavirus thông thường (7,1%), virus hợp bào hô hấp – RSV (6,9%), parainfluenza (1,6%), adenovirus (0,9%), metapneumovirus (0,7%), bocavirus (0,5%), enterovirus (0,1%) và SARS-CoV-2 (0,1%).

Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi hoặc giới tính giữa hai nhóm có và không phát hiện virus hô hấp sau tử vong. Tuy nhiên, tỷ lệ xét nghiệm dương tính cao hơn rõ rệt ở những người từng cư trú tại các cơ sở chăm sóc dài hạn hoặc từng nhập viện trong vòng 30 ngày trước khi qua đời.

Trong 94 trường hợp dương tính với virus cúm qua xét nghiệm tử thiết, chỉ 41,5% người bệnh đang nằm viện tại thời điểm tử vong và vỏn vẹn 17,0% từng có kết quả xét nghiệm cúm dương tính trong vòng 30 ngày trước đó. Đáng chú ý, trong số 23 bệnh nhân có xét nghiệm cúm dương tính trong 30 ngày trước tử vong, có tới gần một phần ba (30,4%) lại cho kết quả âm tính khi lấy mẫu sau tử vong.

Các tác giả nhấn mạnh: “The prevalence of influenza postmortem (94/857, 11.0%) contrasted with the prevalence of premortem influenza diagnosis (23/857, 2.7%) and only 1.4% (12/857) of deaths recorded … influenza as the cause of death” (tạm dịch: “Tỷ lệ hiện mắc cúm qua xét nghiệm sau tử vong 94/857, 11,0% có sự tương phản sâu sắc với tỷ lệ được chẩn đoán cúm trước khi qua đời 23/857, 2,7%, và chỉ có 1,4% 12/857 trường hợp tử vong được ghi nhận … cúm là nguyên nhân gây tử vong”).

Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm cúm ở nhóm tử vong do bệnh lý hô hấp cao hơn có ý nghĩa so với nhóm tử vong ngoài hô hấp (19,1% so với 9,4%); tuy nhiên, xu hướng này không được ghi nhận đối với các loại virus hô hấp khác (30,1% so với 24,2%).

Các tác giả khẳng định việc lấy mẫu phết dịch đường hô hấp sau tử vong giúp nhận diện những ca nhiễm trùng vốn “usually hidden from healthcare centres and epidemiological surveillance” (tạm dịch: “thường bị bỏ sót khỏi mạng lưới y tế và hệ thống giám sát dịch tễ”), bao gồm cả những trường hợp không được tiếp cận chăm sóc y tế trước lúc mất hoặc tử vong thuộc diện giám định pháp y.

Từ những dữ liệu trên, nghiên cứu đi đến kết luận: “This study suggests a novel approach to assess the proportion of all-cause deaths with respiratory viral infection and a possible complement for virological surveillance.” (tạm dịch: “Nghiên cứu này đề xuất một hướng tiếp cận mới nhằm đánh giá tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân có liên quan đến nhiễm virus đường hô hấp, đồng thời là mảnh ghép bổ trợ tiềm năng cho công tác giám sát virus học”).