Nghiên cứu do TS. Bridget Shields (Trường Y khoa và Y tế Công cộng thuộc Đại học Wisconsin, Madison, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự thực hiện đã thu thập và phân tích dữ liệu của 57 bệnh nhân (80,7% là nữ giới) mắc bệnh Crohn ngoài da (cutaneous Crohn’s disease – CCD) từng thăm khám chuyên khoa da liễu tại 9 trung tâm y khoa học thuật trên khắp Hoa Kỳ trong giai đoạn 2000–2020.
Độ tuổi của các đối tượng nghiên cứu dao động từ 10 đến 57 tuổi; tuổi khởi phát triệu chứng trung bình là 34 tuổi và độ tuổi trung bình khi xác lập chẩn đoán CCD là 37 tuổi. Phần lớn người bệnh (70,2%) đã có bệnh Crohn đường tiêu hóa tại thời điểm chẩn đoán CCD, 5,3% mắc viêm loét đại tràng, 1,7% viêm đại tràng không phân định, trong khi có đến 22,8% trường hợp không ghi nhận bệnh viêm ruột (IBD) đi kèm.
Kết quả ghi nhận âm hộ là vị trí tổn thương da thường gặp nhất (40,4%), kế tiếp là vùng mông (17,5%), quanh hậu môn (14,0%) và cẳng chân (14,0%). Hình thái tổn thương lâm sàng điển hình bao gồm các vết loét (42,1%), phù nề mô (31,6%), nứt kẽ (24,6%), nốt cục (17,5%), mảng thâm nhiễm (15,8%) và các đường rò (15,8%).
Đa số bệnh nhân (82,3%) được chỉ định liệu pháp sinh học hoặc các thuốc ức chế phân tử nhỏ, trong đó nhóm ức chế yếu tố hoại tử u alpha (anti-TNF-alpha) chiếm tỷ lệ áp đảo (85,1%). Hơn một nửa số bệnh nhân được can thiệp (53,2%) sử dụng ustekinumab, với gần một phần ba trong số này (32,0%) được phối hợp đồng thời vedolizumab nhằm kiểm soát tổn thương đường tiêu hóa. Ngoài ra, risankizumab được sử dụng ở 10,6% trường hợp, upadacitinib là 8,5% và tofacitinib là 2,1%.
Đáng lưu ý, đa phần người bệnh dùng thuốc sinh học hoặc phân tử nhỏ đã bắt đầu phác đồ này từ trước thời điểm xác lập chẩn đoán CCD; chỉ có 29,8% trường hợp mới khởi trị sau khi phát hiện tổn thương da.
Khi phân tích tương quan theo thời điểm can thiệp, nhóm nghiên cứu nhận thấy những bệnh nhân đã tiếp nhận điều trị trước khi chẩn đoán CCD đạt tỷ lệ thoái lui bệnh một phần hoặc hoàn toàn cao hơn rõ rệt so với nhóm chỉ bắt đầu dùng thuốc sau chẩn đoán (90,0% so với 71,4%).
Ở nhóm bệnh nhân sử dụng thuốc sinh học hoặc phân tử nhỏ, xu hướng phối hợp thuốc chiếm ưu thế hơn so với đơn trị liệu (55,3% so với 44,7%). Trong số 21 ca đơn trị liệu, các hoạt chất được ghi nhận chỉ bao gồm adalimumab (52,4%), ustekinumab (23,8%), infliximab (14,3%) và upadacitinib (9,5%).
Hai phần ba toàn bộ đoàn hệ nghiên cứu cần kết hợp thêm các thuốc toàn thân kinh điển (không phải thuốc sinh học) bên cạnh liệu pháp sinh học hoặc phân tử nhỏ. Nhóm thuốc kinh điển được chỉ định nhiều nhất gồm corticosteroid đường toàn thân (78,9%), kháng sinh (65,8%), aminosalicylate (31,6%) và methotrexate (28,9%).
Tác giả Shields cùng các cộng sự kết luận rằng: “multi-institutional study adds to the limited literature on CCD.” (tạm dịch: “nghiên cứu đa trung tâm này đóng góp thêm dữ liệu thực tế giá trị vào nguồn y văn vốn còn rất hạn chế về bệnh Crohn ngoài da.”)