“These trial results support lacrimal sac massage as an alternative to surgical probing for CNLDO in infants aged less than 1 year” (tạm dịch: “Kết quả từ thử nghiệm lâm sàng này ủng hộ việc áp dụng kỹ thuật vuốt túi lệ như một giải pháp thay thế thủ thuật thông lệ đạo điều trị tắc ống lệ mũi bẩm sinh ở trẻ dưới 1 tuổi”), TS. Xuanwei Liang (Trung tâm Nghiên cứu Lâm sàng Bệnh lý Nhãn khoa tỉnh Quảng Đông, Quảng Châu, Trung Quốc) cùng các cộng sự ghi nhận trên tạp chí JAMA Ophthalmology.

Các tác giả phân tích rằng dù thông lệ đạo có tỷ lệ thành công cao và hiệu quả nhanh chóng, thủ thuật này vẫn mang tính “invasive and associated with risks such as local trauma, pain, and infection” (tạm dịch: “xâm lấn và tiềm ẩn các nguy cơ như chấn thương tại chỗ, đau đớn cũng như nhiễm trùng”), đồng thời một số trẻ có thể cần phải gây mê toàn thân. Ngược lại, vuốt túi lệ lại là biện pháp “noninvasive, easy to administer, cost effective, and has the potential to facilitate spontaneous duct opening” (tạm dịch: “không xâm lấn, dễ thực hiện, tiết kiệm chi phí và có tiềm năng thúc đẩy quá trình tự mở thông của ống lệ”).

Nghiên cứu tiến hành so sánh hai phương pháp can thiệp trên 160 bệnh nhi tắc ống lệ mũi bẩm sinh với độ tuổi trung bình là 6,2 tháng, trong đó trẻ nam chiếm 61,3%.

Phụ huynh của 80 trẻ thuộc nhóm vuốt túi lệ (theo phương pháp Crigler) được đào tạo thực hành trực tiếp theo quy trình chuẩn – toàn bộ thao tác do người nhà thực hiện – kết hợp với giám sát tuân thủ điều trị liên tục. Gia đình được khuyến cáo tiếp tục duy trì kỹ thuật này ngay cả khi các triệu chứng đã cải thiện trong suốt liệu trình 3 tháng.

Ở 80 trẻ còn lại thuộc nhóm thông lệ đạo, thủ thuật được bác sĩ nhãn khoa giàu kinh nghiệm thực hiện ngay trong ngày tiếp nhận tại phòng khám ngoại trú, dưới hình thức gây tê tại chỗ kết hợp quấn cố định trẻ.

Các mốc theo dõi và đánh giá ở cả hai nhóm can thiệp diễn ra vào tuần thứ 1, 4, 8 và 12; có 155 bệnh nhi hoàn thành đầy đủ nghiên cứu – bao gồm 78 trẻ ở nhóm vuốt túi lệ và 77 trẻ ở nhóm thông lệ đạo.

Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính là tỷ lệ thoái lui triệu chứng tại thời điểm 3 tháng, định nghĩa bằng sự biến mất hoàn toàn hoặc thuyên giảm rõ rệt tình trạng chảy nước mắt sống, kèm theo không còn ứ đọng dịch mủ. Phân tích theo ý định điều trị (ITT) ghi nhận tỷ lệ thoái lui ở nhóm vuốt túi lệ đạt 86,2% so với 83,7% ở nhóm thông lệ đạo.

Kết quả tương tự cũng được ghi nhận qua phân tích độ nhạy (sau khi loại trừ các trường hợp mất dấu theo dõi) với tỷ lệ lần lượt là 88,4% so với 83,1%, và trong phân tích theo đề cương (PP) là 90,7% so với 83,1%.

Chênh lệch giữa hai nhóm can thiệp lần lượt là 2,5; 5,3 và 7,6 điểm phần trăm. Với giới hạn dưới của khoảng tin cậy 95% đều trên ngưỡng –10 điểm phần trăm ở tất cả các mô hình phân tích, nhóm nghiên cứu nhận định “noninferiority was demonstrated” (tạm dịch: “tính không thua kém đã được chứng minh”).

Thời gian thoái lui triệu chứng trung bình ở nhóm vuốt túi lệ kéo dài hơn 2,7 tuần so với nhóm thông lệ đạo (3,8 tuần so với 1,1 tuần). Tuy nhiên, phân tích dưới nhóm chỉ ra rằng trẻ có khả năng khỏi sớm hơn nếu người nhà tuân thủ đúng tần suất vuốt túi lệ tối thiểu 3 lần mỗi ngày theo khuyến cáo, đặc biệt trong 8 tuần đầu điều trị.

Đáng chú ý, trong số những trẻ đạt tiêu chí thoái lui ở thời điểm 3 tháng, không có trường hợp nào (0,0%) ở nhóm vuốt túi lệ tái phát trong giai đoạn theo dõi mở rộng thêm 1 tháng, so với tỷ lệ tái phát 3,1% ở nhóm thông lệ đạo.

Trong bài bình luận đi kèm, hai chuyên gia David Silbert và Heather Modjesky (Conestoga Eye, Lancaster, Pennsylvania, Hoa Kỳ) chỉ ra rằng bên cạnh việc không thể làm mù can thiệp, chính “high rates of spontaneous resolution during infancy” (tạm dịch: “tỷ lệ tự khỏi bệnh cao ở lứa tuổi nhũ nhi”) khiến cho “the true benefit of massage remains uncertain” (tạm dịch: “lợi ích thực sự của phương pháp vuốt túi lệ vẫn còn là câu hỏi ngỏ”).

Dẫu vậy, các tác giả kết luận rằng những bằng chứng lâm sàng này “support a standardized massage protocol as a reasonable initial management strategy for appropriately selected infants” (tạm dịch: “ủng hộ việc áp dụng phác đồ vuốt túi lệ chuẩn hóa như một chiến lược xử trí ban đầu hợp lý ở những bệnh nhi được lựa chọn phù hợp”).