Trong bài xã luận đi kèm, các chuyên gia nhận định nghiên cứu này “represents a pivotal step forward,” (tạm dịch: “đại diện cho một bước tiến mang tính bước ngoặt,”) khi bác bỏ quan điểm tồn tại bấy lâu rằng “long-standing argument that early-stage disease cannot be readily identified – and therefore cannot efficiently or effectively be studied or targeted.” (tạm dịch: “bệnh lý ở giai đoạn sớm không thể phát hiện dễ dàng – do đó không thể nghiên cứu hay can thiệp một cách hiệu quả và tối ưu.”).

Hai tác giả Jamie Felton và Emily Sims từ Trường Y thuộc Đại học Indiana (Indianapolis, Hoa Kỳ) bình luận thêm: “The challenge now is no longer whether we can identify individuals at risk, but how to act on that knowledge to alter disease trajectory.” (tạm dịch: “Thách thức hiện nay không còn là liệu chúng ta có thể nhận diện các cá nhân có nguy cơ hay không, mà là hành động như thế nào dựa trên dữ kiện đó để thay đổi diễn tiến tự nhiên của bệnh.”).

Trong giai đoạn 2015–2025, mẫu máu của 220.476 trẻ em (độ tuổi trung vị 3,1 tuổi; 51,3% là trẻ trai) sinh sống tại bang Bavaria (Đức) đã được làm xét nghiệm tầm soát sự hiện diện của từ hai tự kháng thể trở lên, bao gồm: kháng thể kháng insulin (IAA), kháng thể kháng glutamic acid decarboxylase (GADA), kháng thể kháng islet antigen-2 (IA-2A) và kháng thể kháng kênh vận chuyển kẽm 8 (ZnT8A).

GS. Anette-Gabriele Ziegler (Viện Nghiên cứu Đái tháo đường, Helmholtz Munich, Đức) cùng các cộng sự cho biết, ban đầu 716 bác sĩ nhi khoa tuyến ban đầu tham gia chương trình tiến hành thu thập một mẫu máu ở nhóm trẻ từ 1,75 đến 5,99 tuổi. Từ sau tháng 3/2019, độ tuổi sàng lọc được mở rộng lên đến 10,99 tuổi và tiến hành lấy hai mẫu xét nghiệm.

Trong số 219.951 trẻ lấy mẫu thành công, có 1,86% ghi nhận kết quả dương tính và 0,33% dương tính với từ hai tự kháng thể trở lên; trong đó 33 trường hợp đã có biểu hiện đái tháo đường típ 1 trên lâm sàng (giai đoạn 3: tăng glucose huyết có hoặc không kèm triệu chứng).

Tổng cộng có 590 trẻ dương tính ở lần sàng lọc đầu tiên với đái tháo đường típ 1 giai đoạn sớm chưa có triệu chứng lâm sàng. Trong đó, 366 trẻ được đánh giá phân tầng chuyển hóa bằng nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống và xét nghiệm HbA1c. Phần lớn (74,5%) ở giai đoạn 1 (glucose huyết bình thường), 17,7% ở giai đoạn 2 (rối loạn glucose huyết), 3,7% ở giai đoạn 3, và 4,1% chưa đủ dữ liệu phân loại. Tỷ lệ này tương ứng với tần suất lưu hành hiệu chỉnh trong dân số đối với đái tháo đường típ 1 giai đoạn 1 và giai đoạn 2 lần lượt là 0,23% và 0,06%.

Khi tiến hành xét nghiệm lại trên 11.726 trẻ sau thời gian trung vị 3,3 năm, các nhà nghiên cứu ghi nhận 0,30% trẻ dương tính với ít nhất hai tự kháng thể, và 0,25% được chẩn đoán xác định mắc đái tháo đường típ 1 giai đoạn sớm; tương ứng với tỷ lệ hiện mắc hiệu chỉnh trong cộng đồng là 0,27%.

Theo dõi trong thời gian trung vị 5,7 năm, có 212 trẻ phát hiện giai đoạn sớm ở lần sàng lọc thứ nhất, 5 trẻ ở lần sàng lọc thứ hai và 43 trẻ ban đầu không ghi nhận giai đoạn sớm đã tiến triển thành đái tháo đường típ 1 giai đoạn 3 lâm sàng.

Nhóm nghiên cứu của GS. Ziegler nhấn mạnh, tỷ lệ tiến triển sau 5 năm từ giai đoạn sớm sang bệnh lý lâm sàng là 36,2%, tương đương tỷ lệ tiến triển hằng năm là 9,6%. Đáng chú ý, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tốc độ tiến triển giữa nhóm trẻ có và không có tiền sử gia đình thế hệ thứ nhất mắc đái tháo đường típ 1 (41,4% so với 35,3%).

Tuy vậy, phân tích đa biến cho thấy sự kết hợp của các tự kháng thể đặc hiệu là yếu tố dự báo tiến triển bệnh rõ rệt. Nguy cơ tiến triển cao nhất được ghi nhận ở nhóm trẻ dương tính với IA-2A nhưng âm tính với GADA (58,6%), và nhóm dương tính đồng thời với IA-2A, IAA, ZnT8A nhưng âm tính với GADA (73,9%).

Các tác giả nhận định: “A notable and unexpected finding was the consistency in progression rates between stages,” (tạm dịch: “Một phát hiện đáng chú ý và bất ngờ là sự đồng nhất về tốc độ tiến triển giữa các giai đoạn bệnh,”). Tốc độ chuyển từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 hoặc 3 tương đương với tốc độ từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3, với thời gian trung vị mỗi bước chuyển tiếp đều vào khoảng 3 năm.

Các nhà nghiên cứu giải thích thêm: “Although factors such as infection have been associated with initiation or an acceleration of disease, these data suggest that mechanisms driving the disease after its initiation may be operating relatively constantly throughout early-stage disease, rather than accelerating solely near the time of clinical diagnosis,” (tạm dịch: “Mặc dù các yếu tố như nhiễm trùng từng được ghi nhận liên quan đến sự khởi phát hoặc thúc đẩy bệnh diễn tiến nhanh hơn, dữ liệu này gợi ý rằng các cơ chế bệnh sinh sau khi khởi phát có thể hoạt động tương đối hằng định trong suốt các giai đoạn sớm, chứ không chỉ tăng tốc đột ngột vào giai đoạn cận kề chẩn đoán lâm sàng,”).

“This finding carries implications for therapeutic development, particularly in individuals with stage 1 type 1 diabetes, who comprise most early-stage diagnoses.” (tạm dịch: “Phát hiện này mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng cho việc phát triển các liệu pháp điều trị, đặc biệt ở nhóm trẻ mắc đái tháo đường típ 1 giai đoạn 1, vốn chiếm đa số các ca chẩn đoán sớm.”).

Nhóm nghiên cứu kết luận: “These findings inform disease-modifying therapy trials and suggest that screening can be considered beyond genetically selected populations.” (tạm dịch: “Những kết quả này cung cấp thông tin giá trị cho các thử nghiệm liệu pháp điều hòa diễn tiến bệnh, đồng thời gợi ý rằng chiến lược tầm soát có thể cân nhắc mở rộng ra ngoài phạm vi các quần thể nguy cơ cao theo di truyền.”).