TS. Holm Uhlig (Đại học Oxford, Vương quốc Anh) cùng các cộng sự cho biết phát hiện của họ “support targeted testing in children with severe or refractory disease, where identifying anti-IL-10 may help define a subgroup for mechanism-based treatment strategies.” (tạm dịch: “ủng hộ việc xét nghiệm có mục tiêu ở nhóm trẻ mắc bệnh nặng hoặc kháng trị, qua đó việc phát hiện kháng thể kháng IL-10 có thể giúp phân lập một phân nhóm để áp dụng các chiến lược điều trị trúng đích theo cơ chế bệnh sinh”).
Nghiên cứu tiến hành trên đoàn hệ quốc tế gồm 1045 bệnh nhi mắc IBD với độ tuổi chẩn đoán trung bình là 13 tuổi. Trong số này, 26 trường hợp (2,5%) mang tự kháng thể kháng IL-10 có hoạt tính trung hòa, bao gồm 19/352 bệnh nhân viêm loét đại tràng (5,4%), 6/585 bệnh nhân Crohn (1,0%) và 1/108 bệnh nhân IBD chưa phân loại (0,9%).
So với 1019 bệnh nhi không có tự kháng thể, nhóm dương tính với kháng thể kháng IL-10 chiếm tỷ lệ cao hơn ở trẻ gái (65% so với 39%) và có tỷ lệ mắc viêm loét đại tràng vượt trội (73% so với 33%).
Nhóm nghiên cứu phát hiện các tự kháng thể kháng IL-10 chủ yếu thuộc phân lớp IgG và liên quan đến tình trạng tăng tiết các cytokine tiền viêm in vitro, đặc biệt là IL-23, IL-6, yếu tố hoại tử u (TNF) và IL-1β.
Để đánh giá tác động lâm sàng của tự kháng thể này, nhóm tác giả đã so sánh 26 bệnh nhi dương tính với nhóm chứng gồm 66 trẻ âm tính với kháng thể kháng IL-10, được ghép cặp tương đồng về tuổi, giới và thể bệnh IBD. Tuy nhiên, các tác giả lưu ý rằng dù tương đồng về phân loại IBD, có tới 31% bệnh nhân ở nhóm chứng tổn thương tại vị trí L1 (đoạn cuối hồi tràng và/hoặc manh tràng giới hạn) hoặc tổn thương đơn độc tại L4 (đường tiêu hóa trên), trong khi toàn bộ bệnh nhi nhóm có kháng thể kháng IL-10 đều bị tổn thương toàn bộ đại tràng.
Công bố trên tạp chí Gut, các nhà khoa học cho biết nhóm bệnh nhi có tự kháng thể kháng IL-10 biểu hiện bệnh cảnh lâm sàng nặng nề hơn rõ rệt so với nhóm chứng.
Cụ thể, nhóm dương tính có tỷ lệ viêm loét đại tràng cấp tính mức độ nặng cao hơn rõ rệt (26% so với 6%), tỷ lệ bệnh khó điều trị (thất bại với ít nhất hai liệu pháp điều trị tiến tiến có cơ chế tác dụng khác nhau) tăng cao (23% so với 6%), đồng thời tỷ lệ phải phẫu thuật cắt đại tràng cũng lớn hơn đáng kể (27% so với 6%).
Bên cạnh đó, Uhlig và cộng sự nhấn mạnh công trình đã cung cấp “independent validation for the recently reported association between anti-IL-10 positivity and carriage of the HLA-DRB1*01:03 allele.” (tạm dịch: “bằng chứng kiểm chứng độc lập cho mối liên quan được báo cáo gần đây giữa tình trạng dương tính với kháng thể kháng IL-10 và việc mang alen HLA-DRB1*01:03”).
Thực tế ghi nhận 87,5% trong số 16 bệnh nhi dương tính với kháng thể kháng IL-10 mang alen HLA-DRB1*01:03, so với chỉ 1,5% ở 67 bệnh nhi nhóm âm tính.
Các tác giả nhận định tồn tại “clear phenotypic similarities between inborn errors of IL-10 signalling and their autoimmune counterpart while the age of disease onset differs.” (tạm dịch: “những điểm tương đồng rõ rệt về mặt kiểu hình giữa các rối loạn bẩm sinh trong con đường dẫn truyền tín hiệu IL-10 và bệnh cảnh tự miễn tương ứng, mặc dù độ tuổi khởi phát bệnh có sự khác biệt”).
Nhóm nghiên cứu phân tích thêm: “Inherited IL-10 pathway deficiency classically presents in infancy, whereas anti-IL-10-positive patients in this cohort presented in the paediatric age range, with a median age at diagnosis of 13 years.” (tạm dịch: “Tình trạng thiếu hụt con đường IL-10 do di truyền điển hình thường khởi phát ngay từ thời kỳ nhũ nhi, trong khi các bệnh nhân dương tính với kháng thể kháng IL-10 trong nghiên cứu này lại khởi phát ở lứa tuổi thiếu niên, với độ tuổi trung vị khi chẩn đoán là 13 tuổi”).
“The delayed onset suggests that additional genetic, developmental or environmental factors may contribute to anti-IL-10 development and/or its clinical expression.” (tạm dịch: “Thời điểm khởi phát muộn hơn cho thấy nhiều khả năng có sự tham gia của các yếu tố di truyền bổ sung, yếu tố phát triển hoặc môi trường thúc đẩy quá trình sinh tự kháng thể kháng IL-10 và/hoặc biểu hiện lâm sàng của bệnh”).
Dù vậy, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra khuyến cáo cẩn trọng: mặc dù kháng thể kháng IL-10 liên quan đến thể bệnh nặng, “further studies are required to inform clinical decision-making.” (tạm dịch: “vẫn cần thêm các nghiên cứu sâu hơn trước khi đưa vào ứng dụng định hướng quyết định điều trị trên thực hành lâm sàng”).