Tại Trung Quốc, mazdutide hiện đã được phê duyệt ở các mức liều 2 mg, 4 mg và 6 mg nhằm kiểm soát cân nặng lâu dài ở người lớn thừa cân hoặc béo phì, đồng thời hỗ trợ kiểm soát đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường type 2.
Xuất phát từ các dữ liệu thăm dò liều ở pha 1 gợi ý rằng mazdutide liều cao có thể mang lại hiệu quả giảm cân tương đương với các thuốc điều hòa thụ thể đa hormone khác, TS. Olimpia Ferreira Galvao De Araujo (Eli Lilly and Company, Indianapolis, Indiana) cùng các cộng sự đã tiến hành thử nghiệm pha 2 trên 179 người trưởng thành (độ tuổi trung bình 48; 66% là nữ giới) không mắc đái tháo đường type 2, có chỉ số BMI ≥ 30 kg/m2 hoặc từ 27–29 kg/m2 kèm theo ít nhất một bệnh đồng mắc liên quan đến cân nặng.
Hiệu quả giảm cân tăng dần theo liều điều trị
Công bố trên tạp chí The Lancet Diabetes & Endocrinology, nhóm nghiên cứu ghi nhận 32 người tham gia được phân ngẫu nhiên dùng mazdutide tiêm dưới da 3 mg mỗi tuần một lần trong 32 tuần, sau đó tăng lên 6 mg trong 16 tuần tiếp theo, đạt mức giảm trọng lượng cơ thể trung bình bình phương tối thiểu là 7,3% tại tuần 32 (tính từ cân nặng ban đầu trung bình 109,8 kg).
Mức giảm cân nặng trung bình ở tuần thứ 32 đạt 15,6% ở nhóm 48 bệnh nhân dùng mazdutide 10 mg trong 48 tuần và đạt 18,1% ở nhóm 51 bệnh nhân dùng mazdutide 16 mg trong 48 tuần, tương ứng với cân nặng nền ban đầu lần lượt là 108,5 kg và 109,7 kg.
Ngược lại, nhóm 48 người tham gia dùng giả dược chỉ giảm trung bình 0,9% trọng lượng cơ thể so với mức nền 103,1 kg. Sự khác biệt giữa nhóm giả dược và cả ba nhánh can thiệp mazdutide đều đạt ý nghĩa thống kê.
Mức chênh lệch này tiếp tục được duy trì bền vững đến tuần 48, với tỷ lệ phần trăm thay đổi cân nặng trung bình ước tính so với ban đầu lần lượt là 10,5% ở nhóm 3–6 mg; 19,2% ở nhóm 10 mg; 22,3% ở nhóm 16 mg và 0,05% ở nhóm giả dược.
Đáng chú ý, tại tuần 48, hơn 80% người bệnh điều trị bằng mazdutide liều 10 mg hoặc 16 mg giảm được ít nhất 10% trọng lượng cơ thể, và khoảng 50% đạt mức giảm từ 20% trở lên. Đặc biệt, đường biểu diễn đáp ứng giảm cân ở tất cả các nhóm mazdutide vẫn chưa đi vào giai đoạn bình nguyên.
Nhiều lợi ích chuyển hóa vượt trội ngoài tác dụng hạ cân
Bên cạnh tác dụng hạ cân, các đối tượng dùng mazdutide còn ghi nhận mức cải thiện vượt trội so với giả dược tại tuần 48 trên hàng loạt chỉ số: giảm BMI, giảm vòng eo, giảm khối lượng mô mỡ đánh giá qua MRI; hạ nồng độ cholesterol toàn phần, LDL-C, non-HDL-C và triglycerid; đồng thời cải thiện rõ rệt chỉ số HbA1c, glucose máu và glucagon lúc đói.
Hơn nữa, toàn bộ 9 người tham gia có tiền đái tháo đường ban đầu với đầy đủ dữ liệu theo dõi ở nhóm mazdutide 3–6 mg đều trở về mức đường huyết bình thường tại tuần 48; kết quả tương tự cũng ghi nhận ở toàn bộ 11/11 người bệnh ở nhóm 10 mg, 12/13 người (92%) ở nhóm 16 mg, so với tỷ lệ chỉ 6/10 người (60%) ở nhóm dùng giả dược.
Về tính an toàn, tỷ lệ gặp biến cố bất lợi xuất hiện trong quá trình điều trị (TEAE) là 94% ở nhóm 3–6 mg; 85% ở nhóm 10 mg; 92% ở nhóm 16 mg và 79% ở nhóm giả dược. Tỷ lệ ngừng thuốc do biến cố bất lợi tương ứng là 3%, 11%, 20% và 0%, trong đó phần lớn các trường hợp ngưng điều trị đều liên quan đến các rối loạn đường tiêu hóa.
Nhóm tác giả Ferreira Galvao De Araujo kết luận rằng các kết quả này “highlight the potential of mazdutide across the dose range explored, with the higher doses in particular suggesting efficacy similar to that of currently available multihormone receptor modulators” (tạm dịch: “làm nổi bật tiềm năng của mazdutide trên toàn bộ dải liều nghiên cứu, đặc biệt các mức liều cao hơn cho thấy hiệu quả tương đương với các thuốc điều hòa thụ thể đa hormone hiện hành”).
Trong một bài bình luận đi kèm, TS. Marcel Muskiet (Trung tâm Y tế Đại học Leiden, Hà Lan) cùng các đồng nghiệp nhận định rằng thử nghiệm này đã mở rộng phạm vi từ các chương trình phát triển lâm sàng then chốt như GLORY và DREAMS – vốn thực hiện chủ yếu trên quần thể người Trung Quốc – sang một cộng đồng người bệnh đa dạng hơn về mặt địa lý và chủng tộc tại Hoa Kỳ.
Các tác giả bình luận nhấn mạnh rằng những phát hiện mới “broaden the clinical evidence base for mazdutide while supporting the generalisability of glucagon–GLP-1 receptor co-agonism across diverse populations” (tạm dịch: “mở rộng cơ sở bằng chứng lâm sàng cho mazdutide, đồng thời củng cố khả năng ứng dụng rộng rãi của cơ chế đồng vận kép thụ thể glucagon–GLP-1 trên nhiều nhóm quần thể khác nhau”).