“Several hypotheses could be put forward to explain our findings” (tạm dịch: “Có thể đưa ra một số giả thuyết để giải thích cho các phát hiện của chúng tôi”), các nhà nghiên cứu nhận định trên tạp chí Thorax. Cụ thể, “the poor nutritional quality of UPF may drive the inverse association directly and indirectly” (tạm dịch: “giá trị dinh dưỡng nghèo nàn của UPF có thể là yếu tố thúc đẩy trực tiếp hoặc gián tiếp mối liên quan nghịch này”), hoặc căn nguyên có thể xuất phát từ “wide range of additives” (tạm dịch: “nhiều loại phụ gia đa dạng”) được sử dụng trong UPF, “which could have adverse effects on lung cancer [risk]” (tạm dịch: “những chất có thể tác động bất lợi đến nguy cơ ung thư phổi”), nhóm tác giả cho biết.
Dù vậy, các tác giả cũng thận trọng khuyến cáo: “due to the observational design, causality cannot be determined and residual confounding due to unmeasured risk factors for lung cancer or imprecision in the measure of included covariates cannot be excluded” (tạm dịch: “do bản chất là nghiên cứu quan sát, mối quan hệ nhân quả chưa thể được xác lập và không thể loại trừ các yếu tố nhiễu tồn dư bắt nguồn từ những nguy cơ ung thư phổi chưa được đo lường hoặc sự thiếu chuẩn xác trong đánh giá các đồng biến số đưa vào mô hình”).
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra: “[t]he dietary information was assessed only once between the baseline examination and outcome ascertainment, while the diets might change over time or in response to health advice, which could lead to misclassifications” (tạm dịch: “Dữ liệu về khẩu phần ăn chỉ được thu thập một lần duy nhất từ thời điểm đánh giá ban đầu cho tới khi xác định biến cố kết cục, trong khi thói quen dinh dưỡng có thể thay đổi theo thời gian hoặc thay đổi sau các tư vấn sức khỏe, điều này dễ dẫn đến sai lệch trong phân loại”).
Từ những hạn chế đó, nhóm nghiên cứu kết luận: “These findings need to be confirmed by other large-scale longitudinal studies in different populations and settings, considering the aforementioned limitations (tạm dịch: “Các kết quả này cần được kiểm chứng thêm qua những nghiên cứu dọc quy mô lớn trên các quần thể và bối cảnh khác, đồng thời phải cân nhắc đến những hạn chế nêu trên”).
“If causality is established, limiting trends of UPF intake globally could contribute to reducing the burden of lung cancer” (tạm dịch: “Nếu mối quan hệ nhân quả được khẳng định, việc can thiệp nhằm hạn chế xu hướng tiêu thụ UPF trên toàn cầu có thể góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng bệnh tật của ung thư phổi”).
Công trình này phân tích dữ liệu từ 101.732 đối tượng tham gia thử nghiệm PLCO; tất cả đều đã hoàn thành Bảng câu hỏi Tiền sử Dinh dưỡng (DHQ) tại thời điểm tuyển chọn và không có tiền sử mắc ung thư phổi hay bất kỳ bệnh lý ác tính nào khác. Các mặt hàng thực phẩm và đồ uống trong bảng câu hỏi được phân loại theo hệ thống NOVA dựa trên mức độ chế biến thành 4 nhóm: thực phẩm tươi sống hoặc chế biến tối thiểu; nguyên liệu ẩm thực đã qua chế biến; thực phẩm chế biến; và thực phẩm siêu chế biến (UPF).
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu ở thời điểm ban đầu là 62,5 tuổi; lượng tiêu thụ UPF trung bình đã hiệu chỉnh theo năng lượng đạt 2,8 khẩu phần/ngày, dao động từ 0,5 khẩu phần/ngày ở nhóm tứ phân vị thấp nhất đến 6,0 khẩu phần/ngày ở nhóm tứ phân vị cao nhất.
Sau thời gian theo dõi trung bình 12,2 năm, tổng cộng 1.706 trường hợp mới mắc ung thư phổi đã được ghi nhận, trong đó NSCLC chiếm 86,3% và SCLC chiếm 13,7%.
Sau khi hiệu chỉnh đa biến đối với các yếu tố gây nhiễu, nhóm đối tượng thuộc phân nhóm tứ phân vị tiêu thụ UPF cao nhất có nguy cơ mắc ung thư phổi cao hơn 41% có ý nghĩa thống kê so với nhóm có mức tiêu thụ thấp nhất. Mức tăng nguy cơ tương tự cũng được ghi nhận trên cả hai thể mô học: tăng 37% đối với NSCLC và tăng 44% đối với SCLC.
“These results remained statistically significant after a large range of subgroup and sensitivity analyses” (tạm dịch: “Các kết quả này vẫn duy trì ý nghĩa thống kê qua hàng loạt phân tích dưới nhóm và phân tích độ nhạy”), TS. Yongzhong Wu (Bệnh viện Ung bướu Trùng Khánh, Trung Quốc) cùng các cộng sự ghi nhận.
Bình luận độc lập với truyền thông y khoa, BS. Sam Hare thuộc Quỹ tín thác NHS Royal Free London (Vương quốc Anh) nhận định: “A quarter of lung cancer cases occur in non-smokers so we do need research exploring whether other factors are associated with lung cancer. We also know immunity is linked to cancer biology so it is a good idea to do research into factors like diet” (tạm dịch: “Khoảng một phần tư số ca ung thư phổi xuất hiện ở người không hút thuốc, vì vậy chúng ta rất cần các nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ liệu có những yếu tố nào khác liên quan đến bệnh lý này. Chúng ta cũng hiểu rằng hệ miễn dịch có mối liên hệ mật thiết với sinh học ung thư, do đó việc tìm hiểu các yếu tố như chế độ ăn uống là hướng tiếp cận hoàn toàn xác đáng”).
Tuy vậy, ông cũng lưu ý thêm rằng “further work is needed to establish direct causation between UPFs and lung cancer” (tạm dịch: “vẫn cần thêm các công trình nghiên cứu sâu hơn để xác lập mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa UPF và ung thư phổi”).
BS. Hare nhấn mạnh: “Crucially, whilst the study does make some adjustments for smoking status, the amount of smoking is not factored in, which is known to be directly related to lung cancer development” (tạm dịch: “Điểm mấu chốt là mặc dù nghiên cứu đã hiệu chỉnh theo tiền sử hút thuốc, song lượng thuốc hút tích lũy lại chưa được đưa vào mô hình tính toán, trong khi đây là yếu tố nguy cơ có liên quan trực tiếp đến sinh bệnh học ung thư phổi”).