GS. Andrew Einstein (Trung tâm Y tế Irving thuộc Đại học Columbia / Bệnh viện New York-Presbyterian, Hoa Kỳ) và các cộng sự nhận định trên tạp chí JAMA: “Given increasing rates of CAD worldwide, these findings of marked variation in radiation dose to patients from diagnostic testing identify a critical need for training, standardized protocols, and updated equipment to reduce radiation world-wide” (tạm dịch: “Trước thực trạng tỷ lệ mắc bệnh mạch vành ngày càng tăng trên toàn thế giới, sự chênh lệch rõ rệt về liều tia xạ bệnh nhân phải nhận từ các thăm dò chẩn đoán nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về đào tạo, chuẩn hóa quy trình chụp và nâng cấp trang thiết bị nhằm giảm thiểu liều bức xạ trên phạm vi toàn cầu”).

Nhóm tác giả chỉ ra rằng các cải tiến kỹ thuật cùng nhiều bằng chứng lâm sàng giá trị đã mở rộng chỉ định và thúc đẩy sự bùng nổ của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh tim mạch không xâm lấn trên toàn cầu. Tuy nhiên, họ lưu ý thêm rằng: “limited attention has been paid to ensuring implementation of safety standards for imaging modalities that expose patients to ionizing radiation” (tạm dịch: “việc đảm bảo thực thi các tiêu chuẩn an toàn đối với những phương pháp chẩn đoán hình ảnh có sử dụng bức xạ ion hóa vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức”).

Trước thực trạng đó, thông qua Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), nhóm nghiên cứu đã triển khai INCAPS 4 – một nghiên cứu cắt ngang toàn cầu về chẩn đoán hình ảnh tim mạch không xâm lấn. Tiêu chuẩn chọn là các cơ sở y tế có thực hiện ít nhất một thủ thuật chẩn đoán bệnh mạch vành có phát tia xạ trong khoảng thời gian một tuần, giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2023.

Các trung tâm đã thu thập dữ liệu về số lượng ca can thiệp, đặc điểm bệnh nhân, quy trình chụp và các thông số phát xạ; từ đó IAEA tính toán liều hiệu dụng cho từng kỹ thuật. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh được đánh giá gồm: xạ hình tim hạt nhân bằng SPECT (chụp cắt lớp phát xạ đơn photon) hoặc PET (chụp cắt lớp phát xạ positron), chụp cắt lớp vi tính tim đo điểm vôi hóa mạch vành (CACS) và chụp cắt lớp vi tính mạch vành (CCTA).

Tổng cộng có 742 trung tâm tại 101 quốc gia tham gia nghiên cứu, cung cấp dữ liệu của 19.302 bệnh nhân, trong đó 11.061 trường hợp làm chẩn đoán tim mạch hạt nhân (SPECT và/hoặc PET) và 8.241 trường hợp chụp CT tim (CACS và/hoặc CCTA). Độ tuổi trung vị là 65–68 tuổi ở nhóm làm tim mạch hạt nhân và 60–61 tuổi ở nhóm chụp CT. Đáng chú ý, tỷ lệ nữ giới tiếp cận các kỹ thuật tim mạch hạt nhân thấp hơn rõ rệt so với chụp CT, lần lượt là 40–43% so với 44–47%.

Kết quả cho thấy liều bức xạ hiệu dụng trung vị có sự dao động đáng kể tùy theo phương pháp thăm dò: 1,2 mSv với CACS, 2,0 mSv với PET, 6,5 mSv với SPECT và 7,4 mSv với CCTA.

Tỷ lệ trung tâm kiểm soát được liều hiệu dụng trung vị đạt mức khuyến cáo (≤ 9 mSv) ở nhóm thực hiện tim mạch hạt nhân lên tới 81%, vượt trội so với con số 56% ở nhóm triển khai CCTA. Sự khác biệt này cũng phản ánh trực tiếp qua tỷ lệ bệnh nhân thực tế đạt được ngưỡng liều an toàn trên, tương ứng là 79% so với 56%.

Nghiên cứu cũng ghi nhận sự khác biệt lớn về liều chiếu xạ theo từng khu vực địa lý. Tây Âu là khu vực có mức liều hiệu dụng trung vị thấp nhất, ghi nhận 4,8 mSv đối với tim mạch hạt nhân, 1,0 mSv với CACS và 4,6 mSv với CCTA. Ngược lại, liều cao nhất trong tim mạch hạt nhân thuộc về khu vực Mỹ Latinh (trung vị 7,8 mSv); trong khi liều chiếu xạ CACS và CCTA cao nhất lại được ghi nhận tại châu Phi, lần lượt đạt mức 2,6 mSv và 25,2 mSv.

Phân tích hồi quy liều bức xạ hiệu dụng theo mức thu nhập quốc gia cho thấy mối tương quan nghịch rõ rệt: so với các nước có thu nhập cao, liều chiếu xạ trên bệnh nhân tại các nước có thu nhập thấp và trung bình cao hơn 20% đối với tim mạch hạt nhân, 41% đối với CACS và lên tới 96% đối với CCTA.

Dù vậy, các tác giả nhấn mạnh: “Even for high-income countries, [interquartile ranges] of median dose per center spanned 3.9 to 8.2 mSv for nuclear cardiology, 0.7 to 2.0 mSv for CACS, and 3.5 to 11.0 mSv for CCTA. These findings therefore present numerous opportunities to improve the quality and safety of cardiac imaging worldwide” (tạm dịch: “Ngay cả tại các quốc gia có thu nhập cao, [khoảng tứ phân vị] của liều trung vị giữa các trung tâm vẫn dao động từ 3,9 đến 8,2 mSv đối với tim mạch hạt nhân, 0,7 đến 2,0 mSv đối với CACS và 3,5 đến 11,0 mSv đối với CCTA. Những kết quả này mở ra rất nhiều cơ hội để cải thiện chất lượng và tính an toàn của chẩn đoán hình ảnh tim mạch trên phạm vi toàn cầu”).

Dữ liệu nghiên cứu cũng chỉ ra rằng liều hiệu dụng ở nam giới cao hơn nữ giới: cao hơn 5,3% trong tim mạch hạt nhân, 7,1% với CACS và 18,7% với CCTA. Người bệnh có cân nặng hoặc chỉ số khối cơ thể (BMI) càng lớn thì liều bức xạ tiếp nhận càng cao, với mức tăng 0,37% cho mỗi kg ở tim mạch hạt nhân, 1,85% cho mỗi đơn vị BMI ở CACS và 3,9% cho mỗi đơn vị BMI ở CCTA. Ngoài ra, tuổi cao cũng làm tăng đáng kể liều phát xạ ở kỹ thuật CACS (tăng 0,13% mỗi năm tuổi) và CCTA (tăng 0,5% mỗi năm tuổi), nhưng không ghi nhận mối liên quan này trong tim mạch hạt nhân.