GS. Georg Schett (Đại học Friedrich-Alexander Erlangen-Nürnberg, Đức) cùng các cộng sự khẳng định kết quả nghiên cứu “confirm that CRS is a frequent side-effect of CAR T-cell therapy in patients with autoimmune diseases albeit mild in most cases.” (tạm dịch: “xác nhận rằng CRS là một biến cố bất lợi thường gặp ở người bệnh tự miễn điều trị bằng liệu pháp tế bào CAR-T, mặc dù đa số các trường hợp chỉ ở mức độ nhẹ”).
Dù vậy, nhóm tác giả lưu ý thêm: “[i]t remains to be determined whether interventions aiming to lower B-cell numbers or addressing systemic inflammation before CAR T-cell therapy might further enhance the tolerability of this treatment.” (tạm dịch: “vẫn cần làm rõ liệu các can thiệp làm giảm số lượng tế bào B hoặc kiểm soát tình trạng viêm toàn thân trước khi truyền CAR-T có giúp nâng cao hơn nữa khả năng dung nạp của liệu pháp này hay không”).
Công trình quy tụ 108 người bệnh tự miễn (độ tuổi trung vị 34 tuổi, 70% là nữ) được truyền tế bào CAR-T tự thân tại Đức hoặc Trung Quốc trong giai đoạn 2021–2025. Về mặt bệnh học, lupus ban đỏ hệ thống chiếm tỷ lệ cao nhất (56%), tiếp đến là xơ cứng bì toàn thể (23%) và viêm cơ tự miễn vô căn (11%).
Trong nhóm này, 72% bệnh nhân điều trị tại Đức sử dụng các chế phẩm CAR-T nhắm đích CD19 (zorpocabtagene autoleucel, mivocabtagene autoleucel hoặc zolacabtagene autoleucel). Nhóm 28% bệnh nhân tại Trung Quốc được điều trị bằng CAR-T đích kép CD19–BCMA (kháng nguyên trưởng thành của tế bào B) hoặc phối hợp đồng thời hai dòng tế bào CAR-T kháng CD19 và kháng BCMA. Đánh giá chung cho thấy 81% người bệnh đạt lui bệnh, với thời gian triệt tiêu tế bào B duy trì trung vị trong 90 ngày.
Phần lớn bệnh nhân điều trị CAR-T xuất hiện CRS mức độ nhẹ
Công bố trên tạp chí The Lancet Rheumatology ghi nhận 80% người bệnh xuất hiện CRS ở thời điểm trung vị 4 ngày sau truyền CAR-T. Phân loại theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Cấy ghép và Trị liệu Tế bào Hoa Kỳ (ASTCT), 66% ở độ 1, 13% ở độ 2 và chỉ 1% tiến triển thành CRS độ 3. Bên cạnh đó, hội chứng độc tính thần kinh liên quan đến tế bào hiệu ứng miễn dịch (ICANS) xuất hiện ở 3% trường hợp.
Đáng chú ý, số lượng tế bào B nền trước điều trị ở nhóm xuất hiện CRS cao hơn rõ rệt so với nhóm không có biến chứng (43 so với 6 tế bào/μL). Tương tự, nồng độ interleukin (IL)-6 (10 so với 3 pg/mL) và protein phản ứng C (5 so với 3 mg/L) cũng tăng cao hơn có ý nghĩa thống kê.
Các đặc điểm nền khác gồm tuổi tác, giới tính, trọng lượng cơ thể, phân loại bệnh tự miễn, loại chế phẩm CAR-T, nồng độ tế bào CAR-T tối đa, nồng độ ferritin trước điều trị và tỷ lệ đạt lui bệnh không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng giữa hai nhóm có và không xuất hiện CRS.
Số lượng tế bào B và IL-6 là các yếu tố dự đoán độc lập của CRS
Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu tiềm tàng, nhóm nghiên cứu nhận thấy cứ mỗi lần tăng gấp đôi số lượng tế bào B nền hoặc nồng độ IL-6 thì nguy cơ phát triển CRS tăng tương ứng gấp 1,3 lần và 2,3 lần.
Phân tích sâu hơn xác định ngưỡng cắt (cutoff) tối ưu để dự đoán nguy cơ CRS là 25,7 tế bào B/μL và nồng độ IL-6 là 6,8 pg/mL.
Khi áp dụng các mốc này, 100% bệnh nhân (24/24 ca) có cả hai chỉ số vượt ngưỡng đều xuất hiện CRS. Ở nhóm có một trong hai chỉ số trên ngưỡng (43 ca), tỷ lệ này là 81%. Ngược lại, đối với 21 bệnh nhân có cả hai chỉ số đều nằm dưới ngưỡng cắt, tỷ lệ gặp CRS chỉ dừng ở mức 43%.
GS. Schett cùng các cộng sự kết luận rằng những bằng chứng này “support the biomarker-based identification of populations at increased risk for CRS that might be tackled with preventive treatment or more intense monitoring before and after CAR T-cell administration.” (tạm dịch: “ủng hộ việc dựa vào các dấu ấn sinh học để nhận diện đối tượng có nguy cơ cao xuất hiện CRS, qua đó có thể áp dụng các biện pháp dự phòng hoặc theo dõi sát hơn ở giai đoạn trước và sau khi truyền CAR-T”).
Trong bài bình luận cùng số báo, TS. Catherine Shen và TS. Christoph Ellebrecht từ Đại học Pennsylvania (Hoa Kỳ) nhận định việc định lượng tế bào B và nồng độ IL-6 ngay trước thềm truyền tế bào sẽ giúp phân định rõ “patients in whom fever is near-certain from those in whom it is less predictable, which helps to allocate monitoring and support outpatient delivery.” (tạm dịch: “những bệnh nhân gần như chắc chắn sẽ xuất hiện sốt với nhóm khó dự đoán hơn, từ đó hỗ trợ phân bổ kế hoạch theo dõi và tạo điều kiện triển khai điều trị ngoại trú”).
Tuy vậy, hai chuyên gia cũng đưa ra khuyến cáo: “a low-risk profile should not be interpreted as protection against severe events.” (tạm dịch: “hồ sơ nguy cơ thấp không nên được hiểu là sự đảm bảo tránh khỏi các biến cố nghiêm trọng”).
Đặc biệt, dữ liệu lâm sàng không ghi nhận mối liên quan giữa sự xuất hiện của CRS với khả năng lui bệnh, chứng minh rằng hội chứng này “is a toxic effect to prevent, not a price to pay for efficacy.” (tạm dịch: “là độc tính cần dự phòng, không phải cái giá phải trả để đạt được hiệu quả”).