Kết quả công bố trên tạp chí JAMA Ophthalmology cho thấy ở 125 bệnh nhân mắc bệnh hắc mạc dày không biến chứng (UP), bệnh biểu mô sắc tố hắc mạc dày (PPE), hắc võng mạc trung tâm thanh dịch (CSCR) hoặc tân mạch hắc mạc dày (PNV), đa số các phân nhóm này nhìn chung đều duy trì ổn định trong suốt thời gian theo dõi 2 năm.
Nhóm nghiên cứu ghi nhận “little change in mean best-corrected visual acuity or subfoveal choroidal thickness” (tạm dịch: “rất ít biến động về thị lực chỉnh kính tối đa trung bình hay độ dày hắc mạc dưới hoàng điểm”), ngay cả ở những mắt có chuyển biến sang phân nhóm nặng hơn; bên cạnh đó, biến chứng tân mạch cũng “unusual” (tạm dịch: “không phổ biến”), chỉ xuất hiện “exclusively in eyes with shallow, irregular retinal pigment epithelium elevation, suggesting the importance of this imaging feature if confirmed in subsequent studies” (tạm dịch: “duy nhất ở các mắt có tình trạng nâng biểu mô sắc tố võng mạc nông và không đều; điều này gợi mở tầm quan trọng của dấu hiệu hình ảnh này nếu tiếp tục được khẳng định trong các nghiên cứu tương lai”).
TS. Chui Ming Gemmy Cheung (Trung tâm Mắt Quốc gia Singapore) cùng các cộng sự nhận định rằng các kết quả thu được ủng hộ “multi-hit theory” (tạm dịch: “thuyết đa tác động”) trong cơ chế bệnh sinh của phổ bệnh hắc mạc dày, bao gồm chuỗi các giai đoạn kế tiếp nhau: “anatomical predisposition, inciting event, compensatory mechanisms, saturation, decompensation, and a vicious cycle that ultimately leads to visual loss” (tạm dịch: “tiền đề bất thường giải phẫu, biến cố khởi phát, các cơ chế bù trừ, giai đoạn bão hòa, mất bù và vòng xoắn bệnh lý cuối cùng dẫn tới mất thị lực”), thay vì “abrupt phenotypic transitions” (tạm dịch: “những bước chuyển dạng kiểu hình đột ngột”).
Nghiên cứu 2 năm này mở rộng trên phân tích 1 năm trước đó tại 223 mắt của 133 bệnh nhân (với tỷ lệ tiến triển lúc đó là 6,3%). Trong năm thứ 2, chỉ có thêm 3 mắt chuyển biến xấu, đưa tỷ lệ tiến triển tích lũy lên 7,3%, qua đó cho thấy phần lớn các đợt tiến triển bệnh thường diễn ra ngay trong năm đầu tiên.
Tổng cộng có 125 bệnh nhân châu Á (205 mắt) từ 45 tuổi trở lên với độ dày hắc mạc dưới hoàng điểm (SFCT) từ 300 µm trở lên đã hoàn tất 2 năm theo dõi. Độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng là 59 tuổi và nam giới chiếm 74,4%. Phân bố các phân nhóm hắc mạc dày ban đầu gồm: UP chiếm 19,0% số mắt, PPE chiếm 49,8%, CSCR chiếm 22,9% và PNV chiếm 8,3% (trong đó 41,2% ở thể xuất tiết).
Trong số 3 mắt ghi nhận tiến triển bệnh từ năm thứ 1 đến năm thứ 2, có 2 mắt chuyển từ PPE sang CSCR và 1 mắt chuyển từ PPE sang PNV.
Thị lực chỉnh kính tối đa (BCVA) trung vị tại thời điểm ban đầu là 0,06 logMAR (tương đương 20/25 theo bảng Snellen) ở nhóm UP; 0,10 logMAR (20/25) ở nhóm PPE; 0,20 logMAR (20/32) ở nhóm CSCR; và 0,16 logMAR (20/32) ở nhóm PNV. Giá trị SFCT trung vị tương ứng lần lượt là 385 µm, 412 µm, 409 µm và 427 µm.
Nhóm tác giả nhận định “little change” (tạm dịch: “hầu như không có biến đổi đáng kể”) về các giá trị trung bình của BCVA và SFCT sau 2 năm. Cụ thể, BCVA trung bình thay đổi từ 0,13 logMAR (20/25) ban đầu lên 0,11 logMAR (20/25) ở mốc 2 năm, trong khi SFCT trung bình dao động nhẹ từ 419 µm lên 424 µm.
Tỷ lệ mới mắc biến chứng tân mạch chung đạt 3,4%, bao gồm 5 mắt tiến triển thành PNV trong năm đầu (và giữ nguyên thể PNV trong năm thứ 2), 1 mắt chuyển từ PPE sang PNV trong giai đoạn năm 1 đến năm 2, và 1 mắt chuyển từ PPE sang CSCR ở năm thứ 1 rồi thành PNV ở năm thứ 2.
Phân tích đa biến cho thấy nữ giới có tỷ lệ tiến triển bệnh cao hơn rõ rệt so với nam giới (13,5% so với 5,2%), đồng thời nguy cơ tiến triển thành tân mạch màng mạch cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê (7,7% so với 2,0%).
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng biến chứng tân mạch xuất hiện ở 6,0% số mắt có dấu hiệu nâng biểu mô sắc tố võng mạc (RPE) nông và không đều tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, trong khi hoàn toàn không xuất hiện ở nhóm mắt không có dấu hiệu này. Do đó, nhóm tác giả khuyến cáo “eyes with shallow, irregular RPE elevation, particularly those with a baseline diagnosis of PPE, may warrant closer surveillance and a lower threshold for multimodal imaging, including [optical coherence tomography angiography]” (tạm dịch: “những mắt có tình trạng nâng RPE nông và không đều, đặc biệt là nhóm được chẩn đoán PPE ban đầu, cần được giám sát chặt chẽ hơn và nên hạ thấp ngưỡng chỉ định chẩn đoán hình ảnh đa phương thức, bao gồm chụp mạch cắt lớp kết hợp quang học [OCTA]”); ngược lại, với các trường hợp không có tổn thương này, việc theo dõi định kỳ kéo dài có thể không thực sự cần thiết.
Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra hạn chế và tính cấp thiết của việc mở rộng đánh giá trên các cỡ mẫu lớn hơn với thời gian theo dõi dài hơn 2 năm. Đồng thời, kết quả này có thể chưa phản ánh đầy đủ trên nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, đặc biệt là người mắc CSCR, do nghiên cứu chỉ chọn bệnh nhân từ 45 tuổi trở lên nhằm mục đích “enrich for individuals more likely to experience progression” (tạm dịch: “tập trung vào nhóm đối tượng có xác suất tiến triển bệnh cao hơn”).
Trong bài bình luận chuyên môn đi kèm, PGS. Voraporn Chaikitmongkol từ Đại học Chiang Mai (Thái Lan) lưu ý thêm rằng độ dày hắc mạc thường giảm dần theo sinh lý lão hóa, vì vậy tiêu chuẩn chọn mẫu với SFCT từ 300 µm trở lên có thể làm giảm khả năng khái quát hóa đối với “older individuals with pachychoroid disease, despite similar choroidal remodelling” (tạm dịch: “nhóm người cao tuổi mắc bệnh lý hắc mạc dày dù họ vẫn có quá trình tái cấu trúc hắc mạc tương tự”), đồng thời khuyến nghị các thử nghiệm tương lai cần bao quát dải tuổi rộng hơn.
Bà cũng nhấn mạnh nghiên cứu này chưa thu nhận các bệnh nhân thoái hóa mạch hắc mạc dạng polyp (PCV) – thực thể vốn là “the most advanced manifestation of the pachychoroid spectrum” (tạm dịch: “biểu hiện tiến triển nặng nề nhất trong phổ bệnh hắc mạc dày”) và tiềm ẩn nguy cơ chuyển biến xấu rất cao trên lâm sàng.