Các phát hiện này “underscore the potential of SGLT2 [inhibitor] treatment for primary prevention of kidney disease in individuals with type 2 diabetes” (tạm dịch: “nhấn mạnh tiềm năng của thuốc ức chế SGLT2 trong dự phòng tiên phát bệnh thận ở người mắc đái tháo đường típ 2”), theo nhận định của TS. Simon Jensen (Bệnh viện Đại học Aarhus, Đan Mạch) cùng các cộng sự.

Nhóm nghiên cứu đã sử dụng cơ sở dữ liệu dân số toàn quốc tại Đan Mạch để tiến hành một thử nghiệm đích mô phỏng (emulated target trial). Nghiên cứu bao gồm 36.279 bệnh nhân (độ tuổi trung vị 63 tuổi, 64% là nam giới) bắt đầu điều trị bằng thuốc ức chế SGLT2 (empagliflozin hoặc dapagliflozin) trong giai đoạn 2014–2020, so sánh với 18.782 người (độ tuổi trung vị 61 tuổi, 58% là nam giới) khởi trị bằng thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 (liraglutide, semaglutide hoặc dulaglutide) trong cùng khoảng thời gian.

Tại thời điểm ban đầu, tất cả người bệnh đều đang sử dụng metformin. Hai nhóm có sự tương đồng về thời gian mắc đái tháo đường, mức lọc cầu thận ước tính (eGFR) cũng như tỷ số albumin/creatinine niệu (uACR).

Trong báo cáo đăng tải trên tạp chí JAMA Internal Medicine, các tác giả ghi nhận sau 5 năm theo dõi, nhóm sử dụng thuốc ức chế SGLT2 có nguy cơ tiến triển thành bệnh thận mạn thấp hơn 19% có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng đồng vận thụ thể GLP-1, với tỷ lệ mới mắc lần lượt là 6,7% và 8,2%.

Số biến cố tổn thương thận cấp (AKI) tích lũy trung bình sau 5 năm ở nhóm dùng ức chế SGLT2 cũng thấp hơn đáng kể so với nhóm dùng đồng vận thụ thể GLP-1, ghi nhận ở mức 25,2 so với 28,7 biến cố trên mỗi 100 người.

Đối với các tiêu chí phụ sau 5 năm, người sử dụng ức chế SGLT2 giảm có ý nghĩa 25% nguy cơ suy giảm eGFR kéo dài (4,1% so với 5,4%) và giảm 23% nguy cơ suy thận (0,2% so với 0,3%) khi đặt cạnh nhóm dùng đồng vận thụ thể GLP-1.

Trái lại, nguy cơ xuất hiện tiến triển albumin niệu sau 5 năm ở nhóm ức chế SGLT2 lại cao hơn 7% có ý nghĩa thống kê so với nhóm đồng vận thụ thể GLP-1 (16,1% so với 15,0%). Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân sau 5 năm ở nhóm SGLT2 cũng ghi nhận nhỉnh hơn (9,7% so với 9,3%), tuy nhiên sự khác biệt này không đạt mức ý nghĩa thống kê; trong khi đó, tỷ lệ albumin niệu mức độ nặng ở cả hai nhóm đều tương đương ở mức 3,2%.

Bàn luận về kết quả này, TS. Jensen và cộng sự cho rằng “the divergent outcomes of eGFR and albuminuria suggest that combined treatment may offer additive benefits, which should be explored in future studies” (tạm dịch: “sự phân kỳ giữa kết cục bảo tồn eGFR và cải thiện albumin niệu gợi mở rằng việc phối hợp cả hai nhóm thuốc có thể mang lại lợi ích cộng gộp, điều này cần được làm rõ qua các nghiên cứu tiếp theo”).

Phân tích dưới nhóm cho thấy hiệu quả điều trị nhìn chung nhất quán giữa các phân tầng về giới tính, tuổi tác, mức eGFR, uACR, HbA1c, tiền sử bệnh tim mạch do xơ vữa, suy tim cũng như thời gian mắc đái tháo đường. Đáng lưu ý, lợi ích giảm nguy cơ mắc bệnh thận mạn và tổn thương thận cấp của thuốc ức chế SGLT2 thể hiện rõ rệt nhất ở nhóm bệnh nhân chưa có tổn thương thận nền trước đó.

Các tác giả kết luận: “Collectively, these findings support a lower risk of acute and chronic kidney outcomes with SGLT2 [inhibitors] vs GLP-1 [receptor agonists], especially among individuals with a low a priori risk of kidney disease” (tạm dịch: “Tổng thể các bằng chứng này chứng minh thuốc ức chế SGLT2 giúp giảm nguy cơ gặp các biến cố thận cấp và mạn tính tốt hơn so với đồng vận thụ thể GLP-1, đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ bệnh thận tiên lượng thấp”).

Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh thêm rằng việc sử dụng bộ dữ liệu dân số quy mô lớn “allowed for a representative and granular assessment of kidney outcomes, strengthening the relevance and impact of our findings for everyday clinical care” (tạm dịch: “đã cho phép đánh giá chi tiết và mang tính đại diện cao về các kết cục trên thận, từ đó củng cố giá trị ứng dụng thực tiễn cũng như tác động của kết quả nghiên cứu vào chăm sóc lâm sàng thường quy”).