Nhấn mạnh rằng đây là “the first large-scale quantification of this association” (tạm dịch: “công trình đầu tiên định lượng mối liên quan này trên quy mô lớn”), các tác giả khuyến cáo “cardiovascular vigilance and multidisciplinary collaboration remain essential during BTK [inhibitor] therapy” (tạm dịch: “việc theo dõi sát các biến cố tim mạch và phối hợp đa chuyên khoa là hết sức thiết yếu trong suốt quá trình điều trị bằng thuốc ức chế BTK”).

Nhóm nghiên cứu đã khai thác cơ sở dữ liệu từ Mạng lưới TriNetX nhằm xác định các bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu lympho mạn, u lympho tế bào B nhỏ, u lympho tế bào vỏ, macroglobulinemia Waldenström hoặc u lympho thể nang trong giai đoạn từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2024; phân chia thành nhóm có sử dụng (n = 14.687) và không sử dụng (n = 138.097) các thuốc ức chế BTK (ibrutinib, acalabrutinib, zanubrutinib hoặc pirtobrutinib).

Sau khi tiến hành ghép cặp điểm xu hướng nhằm cân bằng các đặc điểm nhân khẩu học, bệnh đồng mắc và thuốc dùng kèm, mỗi nhánh nghiên cứu còn lại 14.444 bệnh nhân (độ tuổi trung bình 74 tuổi, 38% là nữ giới).

Trong thời gian theo dõi trung bình 314 ngày, nhóm tác giả ghi nhận người bệnh dùng thuốc ức chế BTK có nguy cơ xuất hiện tràn dịch màng ngoài tim hoặc chèn ép tim cấp cao hơn gấp đôi so với nhóm không dùng thuốc, với tỷ lệ mới mắc tương ứng là 0,9% so với 0,4%, đạt mức ý nghĩa thống kê với tỷ số nguy cơ (HR) là 2,18.

“This association remained consistent in sensitivity analyses using 14- and 30-day landmark approaches” (tạm dịch: “Mối liên quan này vẫn duy trì tính nhất quán qua các phân tích độ nhạy theo mốc thời gian 14 ngày và 30 ngày”), với HR có ý nghĩa thống kê lần lượt là 2,19 và 2,09, theo báo cáo của TS. Ramzi Ibrahim (Mayo Clinic Arizona, Phoenix, Hoa Kỳ) và các cộng sự trong một thư nghiên cứu công bố trên tạp chí JAMA Oncology.

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng ghi nhận sự gia tăng có ý nghĩa nguy cơ đối với các biến cố tim mạch khác ở nhóm sử dụng thuốc ức chế BTK so với nhóm chứng, bao gồm rung nhĩ mới khởi phát (HR = 2,23), ngừng tim (HR = 1,91), đột quỵ thiếu máu cục bộ (HR = 1,61), nhồi máu cơ tim cấp (HR = 1,42) và suy tim cấp (HR = 1,30).

Ngược lại, mặc dù tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở nhóm dùng thuốc ức chế BTK cao hơn về mặt số học so với nhóm chứng (9,4% so với 8,3%), sự khác biệt giữa hai nhóm chưa đạt mức ý nghĩa thống kê.

Tác giả Ibrahim cùng cộng sự cũng chỉ ra một số hạn chế của đề tài, bao gồm “residual confounding, short follow-up duration, absence of dose- or duration-response data, and lack of imaging detail to characterize pericardial effusion severity” (tạm dịch: “các yếu tố gây nhiễu còn sót lại, thời gian theo dõi ngắn, thiếu dữ liệu về mối liên quan giữa liều lượng hoặc thời gian điều trị với đáp ứng, cũng như thiếu chi tiết về hình ảnh học để xác định mức độ nặng của tràn dịch màng ngoài tim”).

Từ đó, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh “the need for further prospective studies to validate” (tạm dịch: “sự cần thiết của các thử nghiệm tiến cứu tiếp theo nhằm kiểm chứng lại kết quả này”).