BS. Giovanni Roldan cùng các cộng sự tại Đại học Minnesota (Minneapolis, Hoa Kỳ) nhận định rằng các phát hiện của họ “highlight persistent gaps in viral hepatitis protection and support targeted, systematic vaccination strategies for HAV and HBV, especially among high-risk populations” (tạm dịch: “làm nổi bật những khoảng trống kéo dài trong việc bảo vệ cộng đồng trước viêm gan virus, đồng thời ủng hộ mạnh mẽ các chiến lược tiêm chủng có mục tiêu và hệ thống phòng ngừa HAV và HBV, đặc biệt trên các nhóm quần thể nguy cơ cao”).

Nhóm nghiên cứu giải thích rằng chiến lược tiêm liều sơ sinh phổ cập vaccine HBV đã được triển khai tại Hoa Kỳ từ năm 1991, nhưng các hướng dẫn đã được cập nhật vào tháng 12 năm 2025 theo hướng cá thể hóa quyết định tiêm chủng cho trẻ sơ sinh có mẹ không nhiễm HBV. Tiêm phòng HBV toàn dân hiện vẫn được khuyến cáo cho người trưởng thành từ 19 đến 59 tuổi, đồng thời khuyến khích tiêm phòng có mục tiêu cho người cao tuổi (≥60 tuổi) thuộc nhóm nguy cơ cao. Bên cạnh đó, vaccine ngừa HAV được chỉ định cho trẻ em và người lớn có nguy cơ lây nhiễm cao hoặc có nguy cơ diễn tiến bệnh nặng.

Dù đã có các khuyến cáo này, các tác giả nhấn mạnh: “[c]ontemporary nationally representative data across the adult population and high-risk subgroups remain limited and are needed to contextualize the current state of viral hepatitis immunity, considering changing vaccine guidelines” (tạm dịch: “Dữ liệu đại diện toàn quốc đương đại trên quần thể người trưởng thành và các phân nhóm nguy cơ cao vẫn còn hạn chế, trong khi đây là nguồn dữ liệu cần thiết để đánh giá thực trạng miễn dịch viêm gan virus trong bối cảnh các khuyến cáo tiêm chủng đang thay đổi”).

Nghiên cứu tiến hành phân tích dữ liệu của 13.514 người trưởng thành trong cộng đồng từ 20 tuổi trở lên (độ tuổi trung bình là 49 tuổi, 52% là nữ giới) trong giai đoạn 2017–2023, đại diện cho ước tính khoảng 226,1 triệu người trưởng thành tại Hoa Kỳ.

Chưa đến một nửa dân số có miễn dịch với HAV hoặc HBV

Nhóm nghiên cứu của Roldan ghi nhận 39,5% đối tượng tham gia, tương đương khoảng 89,4 triệu người, có miễn dịch huyết thanh với HAV (được xác định bằng xét nghiệm kháng thể kháng HAV dương tính).

Đối với HBV, có 27,1% (tương đương 61,3 triệu người) có miễn dịch huyết thanh (xác định qua kháng thể kháng kháng nguyên bề mặt – anti-HBs dương tính), trong khi chỉ có 25,2% (54,2 triệu người) có miễn dịch thu được nhờ tiêm vaccine (định nghĩa bằng anti-HBs dương tính kèm theo kháng thể kháng kháng nguyên lõi – anti-HBc âm tính).

Phân tích đa biến sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu cho thấy những người tự khai báo thuộc nhóm chủng tộc hoặc sắc tộc thiểu số, người sinh ra ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ và những người nhận thức rõ về bệnh lý gan có tỷ lệ hiện mắc miễn dịch HAV cao hơn đáng kể (tỷ suất chênh hiệu chỉnh [aOR] = 1,36–4,54). Ngược lại, tình trạng béo phì, tuổi cao và trình độ học vấn cao hơn lại liên quan đến việc giảm khả năng có miễn dịch HAV (aOR = 0,32–0,83).

Đối với HBV, cơ hội có kháng thể bảo vệ tăng rõ rệt ở người da đen không thuộc gốc Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha, người Mỹ gốc Á không thuộc gốc Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha, phụ nữ và người có học vấn cao hơn (aOR = 1,29–1,87); trong khi béo phì và tuổi cao có mối liên quan độc lập với việc giảm đáng kể tỷ lệ có kháng thể HBV (aOR = 0,27–0,76).

Mô hình yếu tố tương tự cũng được ghi nhận ở nhóm đối tượng có miễn dịch HBV nhờ vaccine; điều này củng cố quan điểm của nhóm nghiên cứu rằng “that vaccination was the primary driver of population-level [HBV] protection, as naturally acquired immunity represented a negligible fraction of the immune population” (tạm dịch: “tiêm chủng chính là yếu tố thúc đẩy cốt lõi tạo ra sự bảo vệ trước [HBV] ở quy mô dân số, bởi miễn dịch thu được sau phơi nhiễm tự nhiên chỉ chiếm tỷ lệ không đáng kể trong cộng đồng có miễn dịch”).

Mức độ bảo vệ huyết thanh thấp ở các phân nhóm nguy cơ cao

Trong toàn bộ dân số nghiên cứu, có tới 66,9% (tương ứng 151,0 triệu người) được xếp vào các phân nhóm lâm sàng nguy cơ cao, bao gồm bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính, bệnh thận mạn, đái tháo đường, người đang điều trị bằng liệu pháp ức chế miễn dịch và phụ nữ mang thai.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng “protection levels remained low” (tạm dịch: “mức độ bảo vệ vẫn ở ngưỡng rất thấp”) trên toàn bộ các nhóm đối tượng này. Điển hình, tỷ lệ miễn dịch HAV dao động từ 26,7% ở người mắc bệnh gan liên quan đến rượu kèm rối loạn chức năng chuyển hóa cho đến 63,7% ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính; trong khi miễn dịch nhờ vaccine HBV chỉ dao động từ 14,0% ở người bệnh thận mạn đến 38,6% ở thai phụ.

Trong bài bình luận đi kèm, PGS. Raegan Durant (Đại học Alabama tại Birmingham, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự đánh giá rằng công trình này “provides pre-2025 policy change baseline hepatitis B vaccination infection rates” (tạm dịch: “cung cấp tỷ lệ tiêm chủng và nhiễm viêm gan B nền tảng trước thời điểm điều chỉnh chính sách năm 2025”).

Họ nhận định thêm: “This information will be important both to track future progress in reducing hepatitis B infections and to inform evidence-based decision-making on future policy changes to hepatitis B vaccination recommendations” (tạm dịch: “Thông tin này mang ý nghĩa quan trọng để vừa theo dõi tiến trình giảm tỷ lệ nhiễm viêm gan B trong tương lai, vừa cung cấp cơ sở dữ liệu dựa trên bằng chứng cho các quyết định điều chỉnh chính sách đối với khuyến cáo tiêm phòng viêm gan B sau này”).

“Additionally, in light of these policy changes, the finding of such low rates of hepatitis B immunity among clinically vulnerable populations in the Rodan et al study should spur active efforts by clinicians to boost vaccination efforts and prevent serious long-term sequelae for these groups” (tạm dịch: “Ngoài ra, trước những thay đổi về chính sách tiêm chủng này, phát hiện về tỷ lệ miễn dịch viêm gan B rất thấp ở các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương về mặt lâm sàng từ nghiên cứu của Rodan và cộng sự cần trở thành động lực thúc đẩy các bác sĩ lâm sàng hành động quyết liệt hơn nhằm đẩy mạnh tiêm chủng, từ đó phòng ngừa các di chứng lâu dài nghiêm trọng cho người bệnh”).