“Although specificity was high, sensitivity was low: 76% of participants who developed [prediabetes] or [early-onset diabetes] would not have been identified as at risk in adolescence using the adapted ADA guidelines” (tạm dịch: “Dù độ đặc hiệu đạt mức cao nhưng độ nhạy lại rất thấp: có tới 76% đối tượng tiến triển thành tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường khởi phát sớm đã không được nhận diện có nguy cơ từ thời thanh thiếu niên khi áp dụng bộ tiêu chuẩn hiệu chỉnh của ADA”), tác giả Sarah Halvorson-Fried (Trường Y Icahn tại Mount Sinai, New York, Hoa Kỳ) và các cộng sự nhấn mạnh trong bức thư gửi đến tạp chí JAMA Pediatrics.
Nhóm nghiên cứu đã áp dụng các tiêu chí đánh giá nguy cơ của ADA dành cho trẻ em trên đoàn hệ gồm 13.530 đối tượng (49,8% là nữ) trong độ tuổi 12–19 thuộc Nghiên cứu Dọc Quốc gia về Sức khỏe Thanh thiếu niên đến Tuổi trưởng thành (Add Health), sau đó theo dõi tiến trình của họ cho đến khi đạt 24–43 tuổi.
Nhóm tác giả lý giải: “The ADA screening criteria are not intended to predict [prediabetes] or [early-onset diabetes] later in life” (tạm dịch: “Bộ tiêu chuẩn sàng lọc của ADA vốn dĩ không được thiết kế để dự đoán tiền đái tháo đường hay đái tháo đường khởi phát sớm ở giai đoạn sau của cuộc đời”), tuy nhiên “since diabetes risk progresses through the life course, our findings add to an understanding of the screening guidelines’ performance in the long term” (tạm dịch: “vì nguy cơ đái tháo đường tiến triển liên tục theo suốt vòng đời, phát hiện của chúng tôi giúp làm sáng tỏ hơn hiệu quả dài hạn của các hướng dẫn sàng lọc này”).
Về đặc điểm đoàn hệ, có 31,3% đối tượng tự nhận thuộc chủng tộc hoặc nhóm dân tộc có nguy cơ cao mắc tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường khởi phát sớm (như người da đen hoặc người Mỹ gốc Phi) và 29,6% người tham gia thừa cân, xác định theo bách phân vị BMI theo tuổi và giới tính từ 85% trở lên.
Bên cạnh đó, 18,2% người tham gia có người thân thế hệ thứ nhất hoặc thứ hai mang tiền sử đái tháo đường típ 2. Khoảng 8,9% ghi nhận tình trạng tăng huyết áp hoặc rối loạn lipid máu trước 20 tuổi, hoặc có cân nặng lúc sinh dưới 2500 g. Đây là những tiêu chí được ADA sử dụng để đánh giá nguy cơ đề kháng insulin và các bệnh lý liên quan.
Bộ tiêu chuẩn của ADA đã phân loại chính xác 7.218 trên tổng số 8.147 đối tượng không mắc tiền đái tháo đường hay đái tháo đường khởi phát sớm ở độ tuổi 24–43 là nhóm không có nguy cơ từ giai đoạn 12–19 tuổi, tương ứng với độ đặc hiệu đạt 88,6%.
Tuy nhiên, hướng dẫn này chỉ cảnh báo nguy cơ ở độ tuổi 12–19 cho 1.272 trên tổng số 5.838 người thực sự tiến triển thành bệnh lý trước tuổi 43, phản ánh độ nhạy rất hạn chế, chỉ đạt 23,6%.
Giá trị tiên lượng dương tính (PPV) và giá trị tiên lượng âm tính (NPV) của bộ công cụ sàng lọc lần lượt là 57,8% và 63,7%.
Thảo luận về các kết quả này, Halvorson-Fried và các đồng nghiệp lưu ý nghiên cứu còn một số hạn chế do dựa vào dữ liệu tự báo cáo, đồng thời thiếu hụt thông tin về tiền sử đái tháo đường thai kỳ của mẹ cũng như tiền sử bệnh ở anh chị em ruột; điều này “may contribute to undercounting at-risk participants, falsely deflating sensitivity and PPV and inflating specificity and NPV” (tạm dịch: “có thể dẫn đến việc ước tính thấp số lượng đối tượng có nguy cơ thực tế, làm giảm độ nhạy và PPV một cách giả tạo, đồng thời làm tăng độ đặc hiệu và NPV”).
Dù vậy, các nhà nghiên cứu khẳng định kết quả này “add to previous work showing poor predictive performance of the ADA guidelines for [prediabetes] and [early-onset diabetes] among youth” (tạm dịch: “củng cố thêm các bằng chứng trước đây về hiệu quả dự báo hạn chế của hướng dẫn ADA đối với tiền đái tháo đường và đái tháo đường khởi phát sớm ở lứa tuổi thanh thiếu niên”).
Nhóm nghiên cứu kết luận: “As the prevalence of [prediabetes] and [early-onset diabetes] increases, these findings highlight the need for more accurate screening tools” (tạm dịch: “Trong bối cảnh tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường và đái tháo đường khởi phát sớm ngày càng gia tăng, những kết quả này nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải phát triển các công cụ sàng lọc có độ chính xác cao hơn”).
“Future tools should include factors that increase sensitivity among adolescents, such as physical activity, neighborhood environments, and health care utilization, to improve predictive power and better target prevention interventions” (tạm dịch: “Các bộ công cụ trong tương lai cần bổ sung những biến số giúp nâng cao độ nhạy ở trẻ vị thành niên, chẳng hạn như mức độ hoạt động thể lực, môi trường sống và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, nhằm tối ưu hóa năng lực dự báo và định hướng can thiệp phòng ngừa trúng đích hơn”).