Báo cáo trên tạp chí The Lancet Diabetes & Endocrinology của GS. Linong Ji (Bệnh viện Nhân dân Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc) cùng các cộng sự cho thấy nhóm bệnh nhân điều trị bằng IcoSema có tỷ lệ hạ đường huyết có ý nghĩa lâm sàng thấp hơn rõ rệt so với nhóm dùng glargine U100.

Các tác giả nhận định những phát hiện này gợi ý rằng: “IcoSema might be a highly effective treatment option for insulin-naive individuals with type 2 diabetes inadequately controlled with oral glucose-lowering medications.” (tạm dịch: “IcoSema có thể là một lựa chọn điều trị mang lại hiệu quả cao cho những người bệnh đái tháo đường típ 2 chưa từng sử dụng insulin nhưng chưa kiểm soát tốt đường huyết bằng các thuốc hạ đường huyết đường uống.”)

Dữ liệu này cũng “provide reassurance regarding weight gain or hypoglycaemia that might follow treatment intensification with injectable therapy, while reducing the injection burden associated with once-daily therapies,” (tạm dịch: “giúp giải tỏa nỗi lo ngại về nguy cơ tăng cân hoặc hạ đường huyết khi tăng cường điều trị bằng thuốc tiêm, đồng thời giảm bớt gánh nặng tiêm thuốc so với các phác đồ dùng mỗi ngày một lần”), nhóm nghiên cứu nhấn mạnh.

Thử nghiệm quốc tế COMBINE 4 thu nhận 485 người trưởng thành mắc đái tháo đường típ 2 (tuổi trung vị 58 tuổi, 59% nam giới) đang dùng thuốc đường uống và có HbA1c ≥ 8,0% (64 mmol/mol).

Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để tiêm dưới da IcoSema một lần mỗi tuần (n = 243) hoặc glargine U100 một lần mỗi ngày (n = 242), duy trì trong 40 tuần với mục tiêu chỉnh liều đạt mức đường huyết đói 3,9–5,0 mmol/L (70–90 mg/dL). Sau khi phân ngẫu nhiên, các thuốc ức chế DPP-4, sulfonylurea và glinide được ngưng sử dụng, trong khi các thuốc hạ đường huyết đường uống khác vẫn được duy trì.

Lợi ích vượt trội về kiểm soát HbA1c và cân nặng của IcoSema

Tại tuần thứ 40, nhóm nghiên cứu ghi nhận mức giảm HbA1c trung bình ở nhóm dùng IcoSema là 3,32 điểm phần trăm (từ mức ban đầu 9,57% [81 mmol/mol]). Mức giảm này lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với mức giảm trung bình 2,44 điểm phần trăm (từ mức ban đầu 9,50% [80 mmol/mol]) ở nhóm dùng glargine U100.

Mức thay đổi cân nặng cũng có sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhánh: người bệnh dùng IcoSema giảm trung bình 0,79 kg tại tuần 40 (từ mức ban đầu 82,40 kg), trái ngược với mức tăng trung bình 3,81 kg ở nhóm dùng glargine U100 (từ mức ban đầu 81,70 kg).

Trong thời gian theo dõi, 9% trong số 241 người bệnh dùng IcoSema và 22% trong số 238 người dùng glargine U100 xuất hiện hạ đường huyết có ý nghĩa lâm sàng (đường huyết < 3,0 mmol/L [< 54 mg/dL]); tỷ lệ hạ đường huyết nặng (suy giảm nhận thức nghiêm trọng cần sự hỗ trợ y tế từ bên ngoài) lần lượt là 1% và 2%.

Tính chung đến tuần thứ 45, tỷ lệ biến cố hạ đường huyết có ý nghĩa lâm sàng hoặc hạ đường huyết nặng ở nhánh IcoSema thấp hơn đáng kể so với nhánh glargine U100, tương ứng là 0,29 so với 0,59 biến cố/năm-người theo dõi.

Đáng chú ý, tỷ suất chênh ước tính (odds ratio) để đạt mục tiêu HbA1c dưới 7,0% (< 53,0 mmol/mol) tại tuần 40 ở nhóm IcoSema cao gấp 4,1 lần so với glargine U100. Đặc biệt, cơ hội đạt mục tiêu này mà không tăng cân và không gặp biến cố hạ đường huyết (có ý nghĩa lâm sàng hoặc nặng) cao gấp tới 7,8 lần.

Dữ liệu theo dõi qua máy đo đường huyết liên tục (CGM) cho thấy bệnh nhân sử dụng IcoSema đạt tỷ lệ thời gian đường huyết trong mức mục tiêu (TIR) dài hơn có ý nghĩa lâm sàng, đồng thời ghi nhận điểm số hài lòng với điều trị cao hơn rõ rệt so với glargine U100.

Tỷ lệ gặp biến cố bất lợi (AE) chung ở nhóm IcoSema cao hơn so với glargine U100 (83% so với 71%), nhưng tỷ lệ biến cố bất lợi nghiêm trọng lại thấp hơn (7% so với 10%). Các biến cố thường gặp nhất là rối loạn tiêu hóa ở nhóm IcoSema và nhiễm trùng ở nhóm glargine U100.

COMBINE 4 mở ra bước ngoặt mới trong quản lý đái tháo đường

Trong bài bình luận đi kèm, PGS. Srikanth Bellary (Đại học Aston, Birmingham) cùng các đồng nghiệp nhận định kết quả từ COMBINE 4 “represent a major shift in diabetes management.” (tạm dịch: “đại diện cho một bước chuyển biến lớn trong chiến lược quản lý bệnh đái tháo đường”).

Nhóm chuyên gia phân tích: “First, it accelerates the momentum towards treatment simplification.” (tạm dịch: “Thứ nhất, kết quả này tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy xu hướng đơn giản hóa phác đồ điều trị.”)

“Second, it reinforces that insulin and incretin therapies should be viewed as complementary rather than competing modalities, allowing clinicians to maximise metabolic efficacy while minimising individual side effects.” (tạm dịch: “Thứ hai, nghiên cứu củng cố quan điểm rằng insulin và liệu pháp incretin nên được xem là hai giải pháp bổ trợ lẫn nhau thay vì đối kháng, giúp bác sĩ lâm sàng tối ưu hóa hiệu quả chuyển hóa và giảm thiểu tác dụng ngoại ý của từng nhóm thuốc.”)

“Third, by pairing robust glycaemic control and weight reduction with a once-weekly dosing schedule, IcoSema might directly target therapeutic inertia and enhance treatment satisfaction.” (tạm dịch: “Thứ ba, nhờ tích hợp khả năng kiểm soát đường huyết mạnh mẽ và giảm cân vào một lịch tiêm duy nhất mỗi tuần, IcoSema có thể trực tiếp giải quyết sự trì trệ trong điều trị và gia tăng sự hài lòng của người bệnh.”)

Các tác giả kết luận: “Ultimately, these findings align with a modern, patient-centred model of care that values convenience and quality of life alongside traditional metabolic endpoints.” (tạm dịch: “Sau cùng, những dữ liệu này hoàn toàn tương thích với mô hình chăm sóc hiện đại lấy người bệnh làm trung tâm, nơi sự thuận tiện và chất lượng cuộc sống được đánh giá quan trọng ngang hàng với các chỉ số mục tiêu chuyển hóa kinh điển.”)