“These results provide evidence to support the use of adjuvant anti-VEGF therapy alongside trabeculectomy with MMC [mitomycin-C]” (tạm dịch: “Các kết quả này cung cấp bằng chứng ủng hộ việc phối hợp liệu pháp kháng VEGF bổ trợ đồng thời với phẫu thuật cắt bè củng mạc có dùng MMC [mitomycin-C]”), theo công bố của TS. John Landers (Viện Nghiên cứu Y khoa Đại học Flinders, Adelaide, Nam Úc) cùng các cộng sự trên tạp chí Ophthalmology. Nhóm tác giả nhấn mạnh: “Further work is required to determine which patients and glaucoma phenotypes are most likely to benefit from this intervention, and which surgical modifications may be necessary to ensure success” (tạm dịch: “Cần thêm các nghiên cứu tiếp theo để xác định nhóm bệnh nhân và phân nhóm hình thái glaucoma nào hưởng lợi nhiều nhất từ can thiệp này, cũng như những cải tiến phẫu thuật cần thiết để tối ưu hóa kết quả điều trị”).
Dữ liệu theo dõi ban đầu tại thời điểm 12 tháng ghi nhận việc bổ sung bevacizumab giúp gia tăng tỷ lệ phẫu thuật thành công và kiểm soát nhãn áp (IOP) tốt hơn ở nhóm bệnh nhân có tổn thương thần kinh thị tiến triển do glaucoma kèm theo lõm gai thị và tổn hại thị trường tương ứng. Dân số nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 76 tuổi, trong đó 66% là nữ giới. Nhằm đánh giá tính bền vững của can thiệp đối với sự tồn tại của bọng thấm sau phẫu thuật cắt bè củng mạc, thời gian theo dõi đã được kéo dài lên đến 36 tháng.
Tiêu chí đánh giá thành công của phẫu thuật tại thời điểm 36 tháng được duy trì tương tự mốc 12 tháng: “thành công hoàn toàn” (complete success) được xác định khi nhãn áp đạt hoặc thấp hơn mức nhãn áp đích mà không cần tái sử dụng thuốc hạ nhãn áp tại chỗ; hoặc “thành công có điều kiện” (qualified success) khi duy trì được nhãn áp đích nhưng có dùng lại thuốc nhỏ hạ áp. Tất cả các kết cục lâm sàng còn lại đều được xếp vào nhóm phẫu thuật thất bại.
Tại thời điểm ban đầu, nhãn áp trung bình trước phẫu thuật của đối tượng nghiên cứu là 21,1 mmHg và nhãn áp đích trung bình cần đạt là 13,4 mmHg.
Sau 36 tháng theo dõi, 92,3% trong tổng số 65 bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên sử dụng bevacizumab nội nhãn kết hợp MMC đã đạt tiêu chí thành công hoàn toàn. Tỷ lệ này vượt trội có ý nghĩa thống kê so với mức 71,2% ở nhóm 66 bệnh nhân dùng giả dược kết hợp MMC. Tỷ lệ thành công có điều kiện cũng ghi nhận mức chênh lệch đáng kể, lần lượt là 98,5% so với 89,4%.
Bên cạnh đó, nhóm can thiệp bằng bevacizumab cho thấy mức hạ nhãn áp sâu hơn rõ rệt so với nhóm giả dược tại mốc 1 tháng hậu phẫu. Sau thời điểm này, mức chênh lệch nhãn áp tuyệt đối giữa hai nhóm không còn sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê; tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân cần bổ sung thuốc nhỏ mắt để duy trì nhãn áp dưới mức đích ở nhóm bevacizumab luôn thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng tại mọi mốc theo dõi (bao gồm tháng thứ 1, 3, 6, 12 và 36).
Các nghiên cứu viên lưu ý: “An important limitation in interpreting these findings is the uncertain pharmacodynamics of bevacizumab across different ocular compartments” (tạm dịch: “Hạn chế quan trọng khi diễn giải các phát hiện này là đặc tính dược động học của bevacizumab tại các khoang giải phẫu khác nhau của nhãn cầu vẫn chưa thực sự rõ ràng”).
“While intravitreal administration is associated with prolonged intraocular persistence, this does not necessarily equate to effective modulation of subconjunctival wound healing” (tạm dịch: “Mặc dù đường tiêm nội nhãn giúp kéo dài thời gian tồn lưu của thuốc trong mắt, điều này không đồng nghĩa với khả năng điều hòa hiệu quả quá trình liền sẹo mô dưới kết mạc”).
Nhóm nghiên cứu cũng kết luận rằng “the optimal timing and dosing of anti-VEGF therapy for modulation of postoperative wound healing” (tạm dịch: “thời điểm và liều dùng tối ưu của liệu pháp kháng VEGF nhằm điều hòa tiến trình liền vết thương hậu phẫu”) vẫn là vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ trong các thử nghiệm tương lai.