Báo cáo tại Phiên toàn thể Chủ tịch (Presidential Session) trong khuôn khổ Đại hội ESMO 2025 diễn ra tại Berlin (Đức), TS.BS Sapna Patel (Đại học Colorado, Aurora, Hoa Kỳ) chia sẻ: “PRAME is an intracellular protein” (tạm dịch: “PRAME là một protein nội bào”) biểu hiện ở khoảng 90% bệnh nhân u hắc tố màng bồ đào.

Bà cho biết: “It’s processed into peptides and then taken to the cell surface in the context of an HLA molecule” (tạm dịch: “Phân tử này được cắt đoạn thành các peptide rồi trình diện lên bề mặt tế bào thông qua phân tử HLA”), đồng thời làm rõ thêm: “the investigational product – anzu-cel or IMA203 – is a T cell transduced with a receptor that recognizes this HLA/PRAME complex” (tạm dịch: “sản phẩm thử nghiệm – anzu-cel hay IMA203 – là tế bào T được chuyển nạp thụ thể giúp nhận diện phức hợp HLA/PRAME này”).

Trong thử nghiệm lâm sàng, người bệnh mang khối u đặc tiến triển tại chỗ hoặc di căn đồng thời dương tính với cả HLA-A*02:01 và PRAME được gạn tách bạch cầu, sau đó sản xuất anzu-cel trong khoảng 2 tuần. Sau bước hóa trị diệt lympho (lymphodepletion), bệnh nhân được truyền một liều anzu-cel duy nhất kết hợp 10 ngày hỗ trợ bằng interleukin-2 liều thấp.

Báo cáo đợt này tập trung vào 16 bệnh nhân u hắc tố màng bồ đào, được truyền liều TCR-T trung vị là 3,94×109 tế bào. Tuổi trung vị của nhóm bệnh nhân là 62, trong đó nữ giới chiếm gần 2/3 (63%) và phần lớn (81%) đã xuất hiện di căn cả ở gan lẫn ngoài gan. Nhóm tham gia nghiên cứu từng trải qua trung vị hai đợt điều trị toàn thân trước đó, 63% từng dùng tebentafusp và toàn bộ bệnh nhân đều đã tiếp nhận các can thiệp tại chỗ nhắm vào gan.

Tính an toàn của anzu-cel trên u hắc tố màng bồ đào nhìn chung nằm trong dự kiến

Bác sĩ Patel ghi nhận độc tính xuất hiện sau điều trị phổ biến nhất là giảm tế bào máu; bà lưu ý: “these were expected from the lymphodepleting chemotherapy regimen” (tạm dịch: “đây là các độc tính đã được dự liệu trước từ phác đồ hóa trị suy giảm lympho”). Cụ thể, biến cố hạ bạch cầu hạt độ 3–4 xuất hiện ở 94% người bệnh, trong khi tỷ lệ thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu nói chung và giảm lympho bào lần lượt là 50%, 38%, 38% và 25%.

Tất cả bệnh nhân đều xuất hiện hội chứng giải phóng cytokine (CRS), tuy nhiên chỉ 19% ở mức độ 3 và hoàn toàn không có biến cố độ 4 hay độ 5. Thời gian CRS kéo dài trung vị 9 ngày; báo cáo viên nhấn mạnh: “most CRS had resolved by day 14 and no long-term CRS was seen” (tạm dịch: “phần lớn hội chứng CRS đều thoái lui vào ngày thứ 14 và không ghi nhận trường hợp nào kéo dài”).

Bà cho biết thêm, không có bất kỳ biến cố ngoại ý độ 5 nào liên quan đến anzu-cel trên cả 16 bệnh nhân u hắc tố màng bồ đào cũng như toàn bộ quần thể thử nghiệm mở rộng.

Hiệu quả kháng u đầy hứa hẹn của anzu-cel

Chỉ sau một lần truyền anzu-cel duy nhất, tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) đạt 67% và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) lên tới 88%. Tất cả các ca đáp ứng đều là đáp ứng một phần (PR), với thời gian duy trì đáp ứng trung vị đạt 11 tháng.

Thời gian sống thêm không bệnh tiến triển (PFS) trung vị là 8,5 tháng và thời gian sống thêm toàn bộ (OS) trung vị hiện vẫn chưa đạt tới. Tỷ lệ PFS tại thời điểm 6 tháng và 12 tháng lần lượt là 69% và 39%, trong khi tỷ lệ OS ở mốc 12 tháng đạt 71%.

Bác sĩ Patel kết luận: “Our takeaway is that targeting a highly expressed antigen, in this case PRAME, with TCR-specific T cells even in a cold tumor like uveal melanoma can result in clinical activity, and this can be taken forward in other areas of oncology” (tạm dịch: “Thông điệp cốt lõi của chúng tôi là việc nhắm vào một kháng nguyên bộc lộ mạnh, ở đây là PRAME, bằng tế bào T đặc hiệu TCR có thể tạo ra đáp ứng lâm sàng thực sự ngay cả trên khối u ‘lạnh’ như u hắc tố màng bồ đào; đồng thời hướng tiếp cận này hoàn toàn có thể mở rộng sang các lĩnh vực ung bướu khác”).

Bà cũng nhấn mạnh: “These results are being verified in a phase 2 extension cohort in uveal melanoma” (tạm dịch: “Những kết quả này hiện đang được tiếp tục kiểm chứng trong nhánh mở rộng pha 2 trên bệnh nhân u hắc tố màng bồ đào”).

Thử nghiệm pha 1 đầu tiên được báo cáo tại Phiên toàn thể Chủ tịch

Chuyên gia phản biện John Haanen (Viện Ung thư Hà Lan, Amsterdam) đã phân tích lý do những dữ liệu pha sớm này xứng đáng được đưa vào Phiên toàn thể Chủ tịch. Ông chỉ rõ rằng người bệnh u hắc tố màng bồ đào di căn “have a very dismal outcome and cure in this patient population is extremely rare” (tạm dịch: “có tiên lượng rất xấu và việc điều trị khỏi ở nhóm bệnh nhân này là cực kỳ hiếm gặp”).

Chuyên gia Haanen bổ sung rằng mặc dù tebentafusp đã được phê duyệt cho nhóm bệnh mang kiểu hình HLA-A*02:01, “we don’t know whether we are really curing patients with this treatment” (tạm dịch: “chúng ta vẫn chưa rõ liệu phương pháp này có thực sự chữa khỏi bệnh cho người bệnh hay không”). Trong khi đó, các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch thường dùng trên lâm sàng “are largely ineffective” (tạm dịch: “gần như không đem lại hiệu quả”).

Đặt trong bối cảnh điều trị còn nhiều nan giải đó, tỷ lệ đáp ứng 67% của anzu-cel thực sự là một điểm sáng nổi bật. Dẫu vậy, chuyên gia phản biện vẫn giữ thái độ thận trọng về khả năng chữa khỏi hoàn toàn của liệu pháp này và khuyến cáo cần chờ đợi thêm dữ liệu lâm sàng dài hạn hơn.