Nhóm nghiên cứu từ Đại học Dalhousie (Halifax, Canada) nhận định: “Although patients were not randomized, a complete response rate of nearly 81% is compelling and highlights the need to further study [intralesional] IL-2 as a potential option for select patients with cSCC” (tạm dịch: “Dù chưa qua phân nhóm ngẫu nhiên, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn đạt gần 81% là một kết quả đầy thuyết phục, nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về IL-2 [nội tổn thương] như một lựa chọn tiềm năng cho những bệnh nhân cSCC được chọn lọc”).
Đặt vấn đề cho nghiên cứu trên tạp chí JAMA Dermatology, các tác giả giải thích rằng cSCC “is generally cleared surgically, yet it is challenging to manage recurrent disease, locally advanced disease, or disease in anatomically sensitive areas among patients, with few options available” (tạm dịch: “thường được điều trị triệt căn bằng phẫu thuật, song việc kiểm soát các trường hợp tái phát, tiến triển tại chỗ hoặc tổn thương ở các vị trí giải phẫu nhạy cảm vẫn là một thách thức lớn khi có rất ít lựa chọn can thiệp khả thi”).
Nhóm tác giả cho biết thêm rằng IL-2 “was the first effective immunotherapy used to treat human cancers” (tạm dịch: “là liệu pháp miễn dịch hiệu quả đầu tiên được ứng dụng trong điều trị ung thư ở người”), nhưng “vascular leak syndrome and cytokine storm were recognized early on as life-threatening toxic effects related to systemically administered IL-2” (tạm dịch: “hội chứng rò rỉ mao mạch và cơn bão cytokine đã sớm được ghi nhận là các độc tính đe dọa tính mạng liên quan đến đường dùng toàn thân của IL-2”).
Các tác giả tiếp tục: “To address this, intralesional IL-2 has been adapted into Canadian melanoma clinical practice” (tạm dịch: “Để giải quyết vấn đề này, kỹ thuật tiêm IL-2 nội tổn thương đã được đưa vào thực hành lâm sàng điều trị u hắc tố tại Canada”).
Bác sĩ Carman Anthony Giacomantonio cùng các cộng sự đã báo cáo kết quả điều trị trên 16 bệnh nhân cSCC từng thất bại với can thiệp ngoại khoa trước đó, có bệnh lý nội khoa kèm theo không phù hợp để phẫu thuật, hoặc mang khối u tại các vị trí nhạy cảm về mặt thẩm mỹ. Độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng là 79 tuổi và có 9 nam giới (56%).
Toàn bộ bệnh nhân đều được tiêm IL-2 nội tổn thương tại các vị trí nghi ngờ/xác định ác tính trên lâm sàng với liều 0,1 mL/2 mm2 (liều tối đa 20.000.000 IU/lần can thiệp), thực hiện định kỳ mỗi 2 tuần cho đến khi bệnh tiến triển. Số lần can thiệp trung bình là 10 đợt và thời gian điều trị trung bình kéo dài 13 tháng.
Ngoại trừ 3 bệnh nhân, tất cả trường hợp còn lại đều đạt đáp ứng hoàn toàn, tương đương tỷ lệ đáp ứng chung là 81%. Thời gian sống thêm không bệnh tiến triển (PFS) trung vị đạt 19 tháng.
Báo cáo về độ an toàn của liệu trình, nhóm nghiên cứu của Giacomantonio cho biết: “Importantly, in this typically elderly, comorbid patient population, no patients experienced grade 3 or higher toxic effects, with most patients experiencing only grade 1 toxic effects” (tạm dịch: “Điểm đáng chú ý là trên quần thể người bệnh cao tuổi và mang nhiều bệnh đồng mắc này, không có trường hợp nào gặp độc tính từ độ 3 trở lên; đa phần người bệnh chỉ xuất hiện tác dụng phụ độ 1”).
Các biến cố bất lợi thường gặp nhất bao gồm sốt, ớn lạnh và mệt mỏi. Những triệu chứng này có xu hướng xuất hiện sau 6–8 giờ tiêm và thường tự thoái lui trong vòng 24 giờ.
Nhóm nghiên cứu nhận định rằng “given its low cost compared to systemic immunotherapy and ease of use, [intralesional] IL-2 represents an option in cost-prohibitive settings” (tạm dịch: “nhờ chi phí thấp hơn đáng kể so với liệu pháp miễn dịch toàn thân cùng kỹ thuật thực hiện đơn giản, IL-2 [nội tổn thương] là một giải pháp hữu ích trong những bối cảnh bị hạn chế về khả năng chi trả”).
Tuy nhiên, nhóm tác giả kết luận: “[f]urther randomized trials are required to fully elucidate these findings” (tạm dịch: “Cần thêm các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng để làm sáng tỏ toàn diện những phát hiện này”).