GS. John Stone (Trường Y Harvard, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự cho biết secukinumab là một kháng thể đơn dòng hoàn toàn từ người có tác dụng ức chế chọn lọc interleukin-17A, vốn từng chứng minh được hiệu quả điều trị trong nhiều bệnh lý viêm qua trung gian miễn dịch khác.

Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đánh giá hiệu quả và tính an toàn của secukinumab trên 354 bệnh nhân viêm động mạch tế bào khổng lồ (GCA) mới khởi phát (66,4%) hoặc tái phát (33,6%), với độ tuổi trung bình là 72 và 66% là nữ giới.

Ban đầu, người bệnh được phân ngẫu nhiên dùng secukinumab 300 mg hoặc giả dược trong 52 tuần. Sau khi đề cương nghiên cứu được sửa đổi, nhóm can thiệp thứ ba dùng liều secukinumab 150 mg được bổ sung. Thời gian giảm liều glucocorticoid kéo dài 26 tuần ở các nhóm dùng secukinumab và 52 tuần ở nhóm dùng giả dược.

Báo cáo trên tạp chí NEJM Evidence, các nhà nghiên cứu ghi nhận 25,6% trong số 140 bệnh nhân dùng secukinumab 300 mg đạt được trạng thái lui bệnh kéo dài tại tuần 52, so với 16,9% ở 115 người bệnh thuộc nhóm giả dược; sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê.

Đáng lưu ý, tiêu chí lui bệnh kéo dài được định nghĩa là đạt lui bệnh vào tuần 12 và duy trì liên tục đến tuần 52, đồng thời thỏa mãn các điều kiện: không tái phát các dấu hiệu hoặc triệu chứng của GCA đòi hỏi phải tăng liều glucocorticoid hay dùng liệu pháp cứu trợ; tốc độ máu lắng không tăng từ 30 mm/giờ trở lên do GCA dẫn đến phải can thiệp điều trị; nồng độ protein phản ứng C (CRP) không vượt quá 10 mg/L ở hai lần thăm khám định kỳ liên tiếp; và không vi phạm phác đồ giảm liều prednisone.

Tiêu chuẩn này có sự khác biệt so với hai thử nghiệm lâm sàng gần đây của secukinumab là SELECT-GCA và TitAIN, vốn không đưa tiêu chí kiểm soát CRP ở hai lần thăm khám liên tiếp vào định nghĩa lui bệnh.

Phân tích thứ cấp trên 98 người bệnh dùng secukinumab 150 mg và 96 người bệnh dùng giả dược (được thu nạp sau khi sửa đổi đề cương) cũng cho thấy tỷ lệ duy trì lui bệnh giữa hai nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng, lần lượt là 19,4% so với 17,7%.

Nhóm điều trị bằng secukinumab 300 mg có tổng liều glucocorticoid tích lũy trung bình tại tuần 52 thấp hơn so với nhóm giả dược (3158,0 so với 3941,4 mg), đồng thời điểm số cải thiện tổng hợp theo Chỉ số Độc tính Glucocorticoid (GTI Aggregate Improvement Score) trung bình bình phương tối thiểu cũng thấp hơn (23,2 so với 73,1 điểm). Tuy nhiên, các tác giả lưu ý rằng kết quả này cần “be interpreted in relation to the fact that the prednisone taper was 26 weeks in the [secukinumab 300 mg] group and 52 weeks in the placebo group” (tạm dịch: “được diễn giải thận trọng trong bối cảnh thời gian giảm liều prednisone kéo dài 26 tuần ở nhóm [secukinumab 300 mg] và 52 tuần ở nhóm giả dược”).

Nhóm nghiên cứu của Stone cũng cho biết thêm: “[n]o safety findings of concern […] consistent with the safety profile of secukinumab observed over the past 10 years across its approved indications” (tạm dịch: “không ghi nhận tín hiệu an toàn đáng lo ngại nào […] kết quả này hoàn toàn nhất quán với hồ sơ an toàn của secukinumab được theo dõi trong suốt 10 năm qua trên các chỉ định đã được phê duyệt”).

Biến cố bất lợi nghiêm trọng xảy ra ở 20,0% bệnh nhân dùng secukinumab 300 mg, 27,6% ở nhóm 150 mg và 32,2% ở nhóm giả dược. Tỷ lệ nhiễm trùng nghiêm trọng ở các nhóm tương ứng lần lượt là 5,0%, 9,2% và 6,1%.

Stone và các cộng sự đưa ra kết luận: “The GCAptAIN results add to the findings of other trials of other treatments for GCA and [polymyalgia rheumatica]; however, various differences in trial designs limit direct comparisons” (tạm dịch: “Kết quả từ nghiên cứu GCAptAIN bổ sung thêm dữ liệu vào các thử nghiệm về liệu pháp điều trị GCA và [đau nhiều cơ do thấp]; tuy nhiên, sự khác biệt trong thiết kế nghiên cứu đã hạn chế khả năng so sánh trực tiếp”).

Trong bài bình luận đi kèm trên tờ The New England Journal of Medicine, GS. Yoshiya Tanaka thuộc Đại học Sức khỏe Nghề nghiệp và Môi trường (Kitakyushu, Nhật Bản) nhận định rằng các đối tượng tham gia thử nghiệm GCAptAIN “in the placebo group had longer periods of glucocorticoid protection than those in the secukinumab group, which may have masked the detection of superiority of secukinumab” (tạm dịch: “ở nhóm giả dược có thời gian được bảo vệ bằng glucocorticoid dài hơn so với nhóm secukinumab, điều này có thể đã che lấp việc phát hiện tính vượt trội của secukinumab”).

Mặc dù vậy, ông kết luận: “given the relatively modest effect of secukinumab in polymyalgia rheumatica and lack of efficacy in GCA, further research on targeting other, or multiple, cytokines in the inflammatory network of these diseases is sorely needed” (tạm dịch: “xét đến hiệu quả tương đối khiêm tốn của secukinumab trong đau nhiều cơ do thấp và sự thiếu hụt hiệu quả trong GCA, các nghiên cứu sâu hơn nhắm vào các cytokine khác, hoặc can thiệp đa cytokine trong mạng lưới viêm của những bệnh lý này, là vô cùng cần thiết”).