“These findings demonstrate a potentially protective role of CO in PD etiology, which help explain the association between smoking and PD observed in this and other epidemiological studies and support ongoing clinical trials of CO in the treatment of PD” (tạm dịch: “Các kết quả này cho thấy vai trò bảo vệ tiềm năng của CO trong bệnh sinh Parkinson, giúp làm sáng tỏ mối liên quan nghịch đảo giữa hút thuốc lá và nguy cơ mắc Parkinson từng được ghi nhận trong nghiên cứu này cũng như nhiều báo cáo dịch tễ học trước đây, đồng thời củng cố cơ sở cho các thử nghiệm lâm sàng đang triển khai về ứng dụng CO trong điều trị bệnh Parkinson”), TS. Andri Iona (Đại học Oxford, Vương quốc Anh) và các cộng sự nhận định.
Nhóm tác giả cũng lưu ý thêm rằng kết quả này “help to refute the presumed protective effects on PD associated with tobacco smoking specifically, further strengthening the need for tobacco control” (tạm dịch: “giúp bác bỏ giả định cho rằng chính hành vi hút thuốc lá mang lại tác dụng bảo vệ thần kinh, qua đó càng củng cố tầm quan trọng của các biện pháp kiểm soát thuốc lá”).
Nghiên cứu tiến hành phân tích dữ liệu từ ngân hàng sinh học China Kadoorie Biobank trên 512.701 người trưởng thành (59% là nữ giới), độ tuổi chủ yếu từ 35–75 tuổi (trung bình 52 tuổi), được thu nhận từ 10 khu vực địa lý đại diện cho cả thành thị và nông thôn trong giai đoạn từ tháng 6/2004 đến tháng 7/2008.
CO có thể là mắt xích lý giải tác động của hút thuốc lên nguy cơ mắc Parkinson
Tại thời điểm ban đầu, 29,4% đối tượng hút thuốc thường xuyên (hàng ngày hoặc gần như mỗi ngày), 5,7% hút thỉnh thoảng, 3,0% đã cai thuốc thường xuyên (ngừng hút ít nhất 6 tháng) và 61,9% chưa từng hút thuốc. Nồng độ CO trung bình trong khí thở ra – đo bằng máy phân tích cầm tay và tính theo giá trị trung bình của hai lần đo – cao nhất ở nhóm hút thuốc thường xuyên (11,1 ppm), tiếp đến là nhóm hút thỉnh thoảng (3,8 ppm), đã cai thuốc (3,7 ppm) và thấp nhất ở người chưa từng hút thuốc (3,5 ppm).
Sau thời gian theo dõi trung vị khoảng 12 năm, có 1.131 trường hợp khởi phát bệnh Parkinson. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu gồm trình độ học vấn, chỉ số khối cơ thể (BMI), thói quen sử dụng rượu và mức độ hoạt động thể lực, nhóm hút thuốc thường xuyên có nguy cơ mắc bệnh thấp hơn 30% so với nhóm không hút thuốc. Nguy cơ mắc Parkinson giảm rõ rệt theo mức độ tiêu thụ thuốc lá, đạt hiệu quả tối đa ở ngưỡng khoảng 15–24 điếu/ngày.
Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng ngay cả ở nhóm chưa từng hút thuốc, nồng độ CO trong khí thở ra càng cao cũng đi kèm với sự suy giảm có ý nghĩa nguy cơ mắc Parkinson. Sau khi kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ CO ngoại sinh (như mùa trong năm, việc sử dụng nhiên liệu rắn và phơi nhiễm khói thuốc thụ động), nguy cơ mắc Parkinson giảm 15% ở nhóm có nồng độ CO từ 2,0–2,9 ppm so với nhóm dưới 2,0 ppm; giảm 38% ở nhóm 3,0–4,9 ppm; giảm 32% ở nhóm 5,0–11,4 ppm; và giảm 35% ở nhóm từ 11,5 ppm trở lên.
Cụ thể, những người không hút thuốc nhưng có nồng độ CO khí thở ra từ 3,0 ppm trở lên có nguy cơ mắc Parkinson thấp hơn 29% so với nhóm có nồng độ dưới ngưỡng này.
Theo TS. Iona và cộng sự, những phát hiện này gợi ý “a possible new mechanism underlying the smoking-PD association that is not explained by nicotine addiction or other cigarette components” (tạm dịch: “một cơ chế mới tiềm năng làm nền tảng cho mối tương quan giữa hút thuốc và bệnh Parkinson, độc lập với tác động gây nghiện của nicotine hay các thành phần hóa học khác trong thuốc lá”). Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh thêm: “Notably, the association was evident at relatively low exhaled CO levels among individuals who never smoked, with signs of plateauing around 5 ppm, a level well below the mean exhaled CO level in those who regularly smoked (approximately 11 ppm)” (tạm dịch: “Đáng lưu ý là mối liên quan này thể hiện rõ ngay cả ở mức nồng độ CO khí thở ra tương đối thấp ở người không hút thuốc, và có xu hướng bão hòa ở ngưỡng khoảng 5 ppm – mức thấp hơn nhiều so với nồng độ CO trung bình ở người hút thuốc thường xuyên là xấp xỉ 11 ppm”).
Nhóm nghiên cứu đồng thời ghi nhận mối liên quan giữa nồng độ CO khí thở ra và nguy cơ Parkinson ở người không hút thuốc “generally consistent across population subgroups” (tạm dịch: “nhìn chung nhất quán giữa các phân nhóm dân số”), trong đó rõ nét hơn ở nữ giới so với nam giới. Mối liên quan này cũng “unchanged after excluding participants with prevalent chronic disease, suggesting the findings are not confounded by unrelated comorbidities” (tạm dịch: “không thay đổi sau khi loại trừ các đối tượng mắc bệnh lý mạn tính trước đó, cho thấy kết quả ít chịu ảnh hưởng gây nhiễu bởi các bệnh đồng mắc không liên quan”).
Không làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh lý liên quan đến thuốc lá
Ở người chưa từng hút thuốc, mối liên quan này dường như mang tính đặc hiệu đối với bệnh Parkinson. Nồng độ CO trong khí thở ra không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với nguy cơ mắc các bệnh lý thoái hóa thần kinh khác, ung thư phổi, bệnh tim thiếu máu cục bộ, đột quỵ, hay tử vong do mọi nguyên nhân.
Ngược lại, ở nhóm hút thuốc thường xuyên, nguy cơ gặp phải các biến cố trên tăng đáng kể theo liều lượng so với người không hút thuốc; đơn cử như tỷ số nguy cơ (hazard ratio – HR) dao động từ 1,96 đến 3,63 đối với ung thư phổi, và từ 1,20 đến 1,45 đối với bệnh tim thiếu máu cục bộ.
Triển vọng thử nghiệm lâm sàng và những câu hỏi còn bỏ ngỏ
Các tác giả nhấn mạnh: “Clinical trials have indicated that low-dose CO can be administered safely within defined exposure ranges, and trials are under way to specifically assess the safety, tolerability, and pharmacokinetics of HBI-002, an oral low-dose CO liquid drug product, in patients with PD” (tạm dịch: “Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy CO liều thấp có thể được sử dụng an toàn trong khoảng liều phơi nhiễm xác định. Hiện các nghiên cứu đang tiếp tục đánh giá độ an toàn, khả năng dung nạp và dược động học của HBI-002 – một chế phẩm dung dịch CO liều thấp dùng đường uống – trên bệnh nhân Parkinson”).
“The present study provides evidence supporting the scientific rationale and potential for success of such an intervention for PD. If successful, this new treatment could contribute to reducing the global burden of PD in the future” (tạm dịch: “Nghiên cứu hiện tại cung cấp bằng chứng củng cố cơ sở khoa học cũng như triển vọng thành công của hướng can thiệp này đối với bệnh Parkinson. Nếu thành công, liệu pháp mới này có thể góp phần làm giảm gánh nặng toàn cầu của bệnh Parkinson trong tương lai”).
Trong bài xã luận kèm theo, TS. Sirwan Darweesh cùng các đồng nghiệp từ Trung tâm Y tế Đại học Radboud (Nijmegen, Hà Lan) nhận định: “the results, while intriguing, raise several questions” (tạm dịch: “kết quả nghiên cứu dù rất thú vị nhưng vẫn gợi mở nhiều câu hỏi lớn”), đặc biệt là về tính hợp lý sinh học trong việc liệu chỉ một mức chênh lệch nhỏ về nồng độ CO trong khí thở ra có thể mang lại hiệu quả bảo vệ thần kinh đủ lớn để giảm tới 30% nguy cơ mắc bệnh Parkinson hay không.
Xét đến khả năng dao động của phép đo CO khí thở cũng như ảnh hưởng tiềm ẩn từ nồng độ CO môi trường và thức ăn dung nạp gần thời điểm đo, các chuyên gia khuyến nghị các nghiên cứu tiếp theo nhằm làm sáng tỏ vai trò bệnh sinh của CO sẽ cần “focus on proving causal association and potential neuroprotection” (tạm dịch: “tập trung vào việc chứng minh mối quan hệ nhân quả và cơ chế bảo vệ thần kinh tiềm năng”).