Những kết quả này “are reassuring and support the inclusion of DMEK graft tissues from donors with diabetes, regardless of disease severity and without additional preoperative testing to stratify risk” (tạm dịch: “đem lại sự an tâm và ủng hộ việc sử dụng mô ghép DMEK từ người hiến mắc đái tháo đường, bất kể mức độ nặng của bệnh và không cần làm thêm xét nghiệm tiền phẫu để phân tầng nguy cơ”), theo công bố của TS. Mark Greiner (Đại học Iowa, Hoa Kỳ) và cộng sự trên tạp chí JAMA Ophthalmology.

“Longer-term follow-up is needed to ensure findings remain valid with increasing time from keratoplasty” (tạm dịch: “Cần theo dõi dài hạn hơn để khẳng định những phát hiện này vẫn giữ nguyên giá trị khi thời gian hậu phẫu kéo dài”).

Các tác giả cho biết phân tích thứ cấp từ Nghiên cứu Ghép nội mô Giác mạc ở Bệnh nhân Đái tháo đường (DEKS) – do Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ tài trợ – đã mở rộng kết quả ban đầu khi chỉ ra không có mối tương quan giữa thang điểm mức độ nặng đái tháo đường ở người hiến và kết cục phẫu thuật DMEK. Nghiên cứu sử dụng “physiological markers of tissue exposure to chronic hyperglycemia” (tạm dịch: “các chỉ dấu sinh lý phản ánh tình trạng mô tiếp xúc với tăng đường huyết mạn tính”), vốn “may be more relevant in understanding the impact of diabetes on corneal endothelial cell survival and function after transplant” (tạm dịch: “có thể phù hợp hơn nhằm đánh giá tác động của đái tháo đường lên sự sống còn và chức năng của tế bào nội mô giác mạc sau ghép”).

Nhóm nghiên cứu đã đánh giá tác động từ nồng độ HbA1c sau tử thiết, các sản phẩm glycat hóa bền vững (AGEs) và các sản phẩm oxy hóa protein tiến triển (AOPs) của người hiến đối với tỷ lệ thành công của mảnh ghép, mật độ tế bào nội mô (ECD) cùng hình thái tế bào trên 1097 bệnh nhân (1421 mắt) từ nghiên cứu gốc.

Đối tượng nghiên cứu thuộc nhóm phẫu thuật DMEK có nguy cơ từ thấp đến trung bình, trong đó 95,2% trường hợp có chỉ định do loạn dưỡng giác mạc nội mô Fuchs. Độ tuổi trung vị là 71 tuổi và nữ giới chiếm 57,5%. Dữ liệu về AGEs và AOPs được thu thập trên 472 bệnh nhân (542 mắt).

Trong số 968 mắt nhận mô từ người hiến có HbA1c sau tử thiết dưới 6,5% (48 mmol/mol), tỷ lệ thành công của mảnh ghép sau 1 năm đạt 97,1%. Tỷ lệ này tương đương với nhóm người hiến có HbA1c từ 6,5% đến dưới 7,5% (58 mmol/mol; n=194) là 97,4%; nhóm có HbA1c từ 7,5% đến dưới 9,0% (75 mmol/mol; n=86) là 93,0%; và nhóm có HbA1c từ 9,0% trở lên (n=48) là 95,8%.

Các tác giả ghi nhận thêm: “donor HbA1c level was not associated with 1-year graft success when treated as a continuous variable” (tạm dịch: “Nồng độ HbA1c của người hiến không liên quan đến tỷ lệ thành công của mảnh ghép sau 1 năm khi phân tích dưới dạng biến số liên tục”). Tương tự, các chỉ số AGEs và AOPs sau tử thiết của người hiến cũng không ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của mảnh ghép tại thời điểm 1 năm.

Phân tích về ECD và hình thái học tế bào được tiến hành trên 982 bệnh nhân (1274 mắt) duy trì mảnh ghép trong suốt sau 1 năm và có ít nhất một ảnh chụp hậu phẫu đạt tiêu chuẩn phân tích, trong đó 420 bệnh nhân (484 mắt) có đầy đủ số liệu về AGEs và AOPs.

Tại nhóm nhận mô từ người hiến có HbA1c dưới 6,5%, mật độ tế bào nội mô trung bình giảm từ 2686 tế bào/mm2 tại thời điểm sàng lọc xuống còn 1932 tế bào/mm2 sau phẫu thuật 1 năm. Xu hướng giảm ECD cũng diễn ra tương tự giữa các phân nhóm HbA1c: từ 2636 tế bào/mm2 xuống 1915 tế bào/mm2 ở nhóm HbA1c 6,5% đến dưới 7,5%; từ 2657 tế bào/mm2 xuống 1982 tế bào/mm2 ở nhóm HbA1c 7,5% đến dưới 9,0%; và từ 2676 tế bào/mm2 xuống 1817 tế bào/mm2 ở nhóm HbA1c từ 9,0% trở lên.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh HbA1c của người hiến không có mối liên hệ nào với hệ số biến thiên diện tích tế bào cũng như tỷ lệ phần trăm tế bào lục giác ở mắt người nhận. Tương tự, các chỉ số AGEs và AOPs của người hiến cũng không ghi nhận bất kỳ mối liên quan nào với cả ba thông số nội mô này.

Trong bài bình luận đi kèm, hai chuyên gia N Venkatesh Prajna và Naveen Radhakrishnan (Bệnh viện Mắt Aravind, Ấn Độ) nhấn mạnh độ tuổi trung bình của người hiến trong nghiên cứu là 65 tuổi (từ 50–75 tuổi). Điều này khiến kết luận của nghiên cứu “particularly consequential” (tạm dịch: “mang ý nghĩa thực tiễn đặc biệt quan trọng”), bởi cả tỷ lệ mắc đái tháo đường lẫn nhu cầu nhận mô ghép đều gia tăng theo tuổi tác, và “simultaneously restricting tissue according to age and diabetes status could unnecessarily constrict the donor pool” (tạm dịch: “việc đồng thời loại trừ mô ghép dựa trên tuổi tác và tiền sử đái tháo đường có thể làm thu hẹp nguồn giác mạc hiến tặng một cách không cần thiết”).

Tuy vậy, các chuyên gia cũng lưu ý rằng nghiên cứu DEKS “did not establish that every cornea from a donor with diabetes is suitable for DMEK” (tạm dịch: “không khẳng định rằng mọi giác mạc từ người hiến mắc đái tháo đường đều thích hợp cho DMEK”), mà thay vào đó “emphasizes that the quality of the donor tissue is the most important criterion” (tạm dịch: “nhấn mạnh rằng chất lượng của mô hiến mới là tiêu chí quan trọng nhất”). Một điểm sáng khác của công trình là tính chuẩn hóa và mức độ phối hợp chặt chẽ giữa 13 ngân hàng mắt cùng 28 trung tâm lâm sàng, phản ánh “a mature partnership between eye banking and clinical research” (tạm dịch: “sự phối hợp chặt chẽ, chuyên nghiệp giữa hệ thống ngân hàng mắt và nghiên cứu lâm sàng”), mang lại tỷ lệ mảnh ghép duy trì độ trong sau 1 năm đạt trên 95%.

Nhìn chung, Prajna và Radhakrishnan nhận định bài học cốt lõi từ nghiên cứu này “both clinically reassuring and operationally important: when a donor cornea meets accepted standards for DMEK, neither the presence nor the measured severity of donor diabetes appears to compromise 1-year graft success or endothelial outcomes” (tạm dịch: “vừa củng cố niềm tin lâm sàng vừa có giá trị điều hành thực tiễn: khi giác mạc người hiến đã đáp ứng các tiêu chuẩn phẫu thuật DMEK, thì tiền sử hay mức độ đái tháo đường của người hiến đều không làm suy giảm tỷ lệ thành công của mảnh ghép cũng như các chỉ số nội mô sau 1 năm”).