TS. Juan Pablo Arab (Trường Y thuộc Đại học Virginia Commonwealth, Richmond, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự nhận định: “These results suggest that, beyond weight loss efficacy, IBTs may be associated with neurobehavioral benefits that reduce alcohol-related harm” (tạm dịch: “Những kết quả này gợi ý rằng, bên cạnh hiệu quả giảm cân, các liệu pháp nền tảng incretin còn có thể mang lại các lợi ích về mặt thần kinh – hành vi giúp giảm thiểu các tác hại liên quan đến rượu”).
Nhóm tác giả giải thích rằng phẫu thuật can thiệp giảm béo vốn làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các hành vi nghiện, bao gồm cả rối loạn sử dụng rượu (AUD), mà cơ chế bệnh sinh có thể bắt nguồn từ “altered gut hormone signaling and accelerated alcohol absorption” (tạm dịch: “sự biến đổi dẫn truyền tín hiệu hormone ruột và quá trình hấp thu rượu diễn ra nhanh hơn”).
Nghiên cứu đoàn hệ này đã đánh giá tỷ lệ mới mắc AUD trên 15.382 bệnh nhân bắt đầu điều trị bằng semaglutide, liraglutide hoặc tirzepatide sau phẫu thuật giảm béo, đối chiếu với 4.188 bệnh nhân chỉ định các nhóm thuốc điều trị béo phì (AOM) khác sau phẫu thuật, cụ thể là orlistat, phentermine, naltrexone liều thấp, benzphetamine, phendimetrazine hoặc diethylpropion.
Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng trước khi thực hiện ghép cặp điểm xu hướng (propensity score matching), nhóm dùng IBT có độ tuổi lớn hơn, tỷ lệ nữ giới cao hơn, đồng thời ghi nhận tần suất cao hơn về các yếu tố nguy cơ tim mạch – chuyển hóa, bệnh lý tâm thần đồng mắc và bệnh gan so với nhóm dùng các thuốc AOM khác.
Sau khi ghép cặp điểm xu hướng, mỗi nhóm gồm 3.990 bệnh nhân với độ tuổi trung bình là 46 tuổi; trong đó 85% là nữ giới và 56–57% là người da trắng. Nhóm sử dụng IBT có chỉ số BMI trung bình nhỉnh hơn so với nhóm dùng các AOM khác (39 so với 38 kg/m2).
Nhìn chung, tỷ lệ chẩn đoán mới AUD ở nhóm điều trị bằng IBT là 2,4 ca/1.000 người–năm, thấp hơn đáng kể so với mức 5,2 ca/1.000 người–năm ở nhóm dùng các AOM khác, tương ứng với mức giảm có ý nghĩa thống kê 55% nguy cơ tiến triển AUD.
Bên cạnh đó, nhóm bệnh nhân sử dụng IBT cũng có tỷ lệ phải bắt đầu điều trị bằng thuốc đặc hiệu cho AUD thấp hơn so với nhóm dùng các AOM khác (15,2 so với 25,6 ca/1.000 người–năm), tương đương mức giảm 41% nguy cơ cần can thiệp dược lý đối với AUD.
Nhóm nghiên cứu của TS. Arab nhấn mạnh: “Results were consistent across sensitivity analyses, including restriction to AOM initiation within 5 years of bariatric surgery and requiring 3 or more AOM prescriptions” (tạm dịch: “Kết quả duy trì tính nhất quán qua các phân tích độ nhạy, bao gồm cả khi giới hạn thời điểm bắt đầu dùng AOM trong vòng 5 năm sau phẫu thuật giảm béo và yêu cầu người bệnh phải có từ 3 đơn thuốc AOM trở lên”).
Từ những dữ liệu trên, các tác giả kết luận: “For patients who have undergone bariatric surgery, particularly those with inadequate weight loss or heightened AUD risk, clinicians should consider prioritizing IBTs over other AOMs” (tạm dịch: “Đối với những bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật giảm béo, đặc biệt là các trường hợp giảm cân chưa đạt mục tiêu hoặc có nguy cơ cao mắc AUD, bác sĩ lâm sàng nên cân nhắc ưu tiên chỉ định các thuốc IBT hơn các AOM khác”).
Các tác giả cũng đưa ra khuyến nghị lâm sàng: “Prospective studies should confirm these findings, evaluate IBTs’ durability beyond 2 years, and examine their association with alcohol-related liver disease” (tạm dịch: “Cần có thêm các nghiên cứu tiến cứu để tái khẳng định những phát hiện này, đánh giá hiệu quả duy trì của IBT sau mốc 2 năm, đồng thời làm rõ mối liên quan của nhóm thuốc này đối với bệnh gan do rượu”).