“These findings support incorporating noninvasive liver stiffness assessment into routine [type 2 diabetes] management to improve risk stratification and identify patients at elevated risk of adverse outcomes,” (tạm dịch: “Những phát hiện này củng cố việc đưa đánh giá độ cứng gan không xâm lấn vào quy trình quản lý đái tháo đường típ 2 thường quy nhằm tối ưu hóa phân tầng nguy cơ và nhận diện nhóm người bệnh có nguy cơ cao gặp biến cố bất lợi,”) – TS. Fernando Bril (Đại học Alabama tại Birmingham) cùng các cộng sự công bố trên tạp chí JAMA Network Open.
“Future prospective studies and health system-level interventions are needed to validate these findings and explore how best to implement fibrosis screening in clinical practice.” (tạm dịch: “Cần triển khai thêm các nghiên cứu tiền cứu cùng các can thiệp ở quy mô hệ thống y tế để kiểm chứng lại những kết quả này, đồng thời tìm kiếm giải pháp tối ưu đưa tầm soát xơ hóa gan vào thực hành lâm sàng.”)
Do “the risk of clinically significant fibrosis and cirrhosis is substantially increased” (tạm dịch: “nguy cơ xơ hóa gan có ý nghĩa lâm sàng và xơ gan gia tăng rõ rệt”) ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) khuyến cáo nên tầm soát bước đầu bằng chỉ số FIB-4 (Fibrosis-4 index), sau đó thực hiện các thăm dò xác chẩn như đo độ cứng gan (LSM) hoặc xét nghiệm xơ hóa gan tăng cường (ELF), nhóm tác giả cho biết thêm.
Tuy vậy, chỉ số FIB-4 bộc lộ hạn chế về độ nhạy, “prompting interest in LSM as a primary screening strategy,” (tạm dịch: “thúc đẩy sự quan tâm đến việc ứng dụng đo độ cứng gan [LSM] như một chiến lược sàng lọc ban đầu”).
Nghiên cứu được tiến hành trên nhóm người trưởng thành có đầy đủ dữ liệu về kỹ thuật đo đàn hồi thoáng qua có kiểm soát rung (VCTE) và thông số giảm âm được kiểm soát (CAP), đồng thời không có tiền sử mắc các bệnh lý gan mạn tính khác ngoài bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASLD).
MASLD được xác định khi chỉ số CAP đạt từ 274 dB/m trở lên, kèm ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch – chuyển hóa và lượng cồn tiêu thụ hàng tuần dưới 140 g ở nữ và dưới 210 g ở nam. Trên VCTE, xơ hóa gan giai đoạn 2 và 3 tương ứng với mức LSM 8,2–9,6 kPa và 9,7–19,9 kPa; từ 20,0 kPa trở lên được phân loại là xơ gan. Xơ hóa giai đoạn 2 được xem là có ý nghĩa lâm sàng, trong khi giai đoạn 3 hoặc 4 là xơ hóa tiến triển. Chỉ số FIB-4 dưới 1,30 được xếp vào nhóm nguy cơ thấp.
Dữ liệu nền bao gồm nhân khẩu học và các xét nghiệm cận lâm sàng được trích xuất từ Khảo sát Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia (NHANES) giai đoạn 2017–2018, liên kết với Trung tâm Thống kê Y tế Quốc gia và Chỉ số Tử vong Quốc gia Hoa Kỳ đến tháng 12 năm 2019.
Tổng cộng có 4.102 bệnh nhân tham gia phân tích. Độ tuổi trung bình là 47, nữ giới chiếm 51%, 63% là người da trắng không thuộc gốc Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha, và chỉ số BMI trung bình đạt 29,5 kg/m2.
Sau thời gian theo dõi trung bình 24 tháng, ghi nhận 59 ca tử vong (1,4%). So với nhóm sống sót, những người tử vong có tuổi đời cao hơn rõ rệt (trung bình 62 so với 47 tuổi), tỷ lệ người da trắng không thuộc gốc Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha cao hơn (85% so với 63%), tỷ lệ mắc đái tháo đường cao hơn (36% so với 14%) và mức HbA1c cao hơn (6,2% so với 5,6%; tương đương 7,3 so với 6,3 mmol/L).
Người bệnh đồng thời mắc MASLD và đái tháo đường có nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân tăng cao rõ rệt so với nhóm không mắc tình trạng nào, với tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh (aHR) là 2,77 sau khi đã kiểm soát các yếu tố tuổi, giới tính, BMI và mức độ xơ hóa gan (đo bằng LSM dưới dạng biến liên tục). Ngược lại, nếu chỉ mắc riêng đái tháo đường hoặc riêng MASLD thì không ghi nhận sự gia tăng có ý nghĩa thống kê về nguy cơ tử vong.
Tương tự, sự kết hợp giữa xơ hóa gan tiến triển và đái tháo đường cũng làm tăng mạnh nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân (aHR = 6,41), nhưng nếu chỉ đơn độc có một trong hai tình trạng này thì nguy cơ tử vong không tăng đáng kể.
Phân tích sâu hơn về ảnh hưởng của bệnh lý gan ở quần thể đái tháo đường chỉ ra rằng: LSM đo bằng VCTE là yếu tố dự báo độc lập cho tử vong do mọi nguyên nhân (aHR = 1,06 cho mỗi 1 kPa tăng thêm). Ngược lại, chỉ số FIB-4 không cho thấy mối liên quan độc lập với nguy cơ tử vong chung.
Đặc biệt, ở người bệnh đái tháo đường, tình trạng xơ hóa tiến triển (so với không có xơ hóa ý nghĩa lâm sàng) làm tăng nguy cơ tử vong rõ rệt (aHR = 4,24), và nguy cơ này lên đến 11,13 lần ở bệnh nhân xơ gan (aHR = 11,13). Nguy cơ tử vong cũng tăng vọt ở nhóm đái tháo đường không kiểm soát tốt (HbA1c > 8% hay > 10,2 mmol/L so với ≤ 8% hay ≤ 10,2 mmol/L) đi kèm mức LSM trên 8 kPa (aHR = 11,71) khi so sánh với nhóm kiểm soát đường huyết tốt và LSM thấp; tuy nhiên, nguy cơ không tăng có ý nghĩa ở nhóm đái tháo đường kiểm soát kém nhưng LSM thấp, hoặc nhóm kiểm soát tốt nhưng LSM cao.
Trong bài bình luận đi kèm, PGS. Emad Qayed (Trường Y, Đại học Emory, Hoa Kỳ) nhận định nghiên cứu này “provides a strong argument to reconsider current strategies for detecting liver fibrosis in patients with diabetes,” (tạm dịch: “đưa ra luận điểm thuyết phục để xem xét lại các chiến lược phát hiện xơ hóa gan hiện hành ở người bệnh đái tháo đường,”) đồng thời cảnh báo “that reliance on FIB-4 as the initial screening tool may result in a substantial proportion of patients with high-risk diabetes being missed” (tạm dịch: “rằng việc phụ thuộc vào FIB-4 như một công cụ tầm soát ban đầu có thể bỏ sót một tỷ lệ đáng kể người bệnh đái tháo đường nguy cơ cao”) và khiến họ không tiếp cận được “emerging pharmacologic therapies for MASLD.” (tạm dịch: “các liệu pháp điều trị bằng thuốc mới xuất hiện đối với MASLD.”).
Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh: “At present, universal implementation of LSM is impractical, given the size of the population with diabetes, limited access to transient elastography, and logistical, cost, and infrastructure constraints,” (tạm dịch: “Ở thời điểm hiện tại, việc triển khai đo độ cứng gan đại trà là chưa thực tế nếu xét đến quy mô quần thể đái tháo đường quá lớn, khả năng tiếp cận kỹ thuật đo đàn hồi thoáng qua còn hạn chế, cùng các rào cản về hậu cần, chi phí và cơ sở hạ tầng,”) qua đó nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về “more accurate, low-cost biomarkers that can approximate the prognostic performance of liver stiffness measurement and guide appropriate risk stratification and treatment.” (tạm dịch: “những dấu ấn sinh học chi phí thấp, có độ chính xác cao hơn, tiệm cận được giá trị tiên lượng của đo độ cứng gan để định hướng phân tầng nguy cơ và điều trị phù hợp.”).