Nghiên cứu được công bố trên tạp chí The New England Journal of Medicine, đồng thời được báo cáo tại Hội nghị Khoa học Thường niên năm 2026 của Trường Môn Tiêu hóa Hoa Kỳ (ACG) tại Nashville, Tennessee, Hoa Kỳ và Tuần lễ Tiêu hóa Châu Âu (UEG Week) 2026 tại Barcelona, Tây Ban Nha.

TS. Maria Abreu (Cedars-Sinai, Los Angeles, California, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự cho biết công nghệ peptide vòng mang lại “high stability and epithelial permeability” (tạm dịch: “độ ổn định cao và khả năng thấm qua biểu mô tốt”), giúp khắc phục các hạn chế kinh điển của liệu pháp peptide dùng đường uống, đồng thời mở ra lựa chọn thay thế cho các chế phẩm sinh học đường tiêm truyền trong điều trị viêm loét đại tràng (UC).

Thử nghiệm tuyển chọn 252 người trưởng thành có điểm Mayo cải biên (MMS) tối thiểu 5 điểm và phân điểm nội soi Mayo (ES) từ 2 điểm trở lên. Toàn bộ người bệnh tham gia đều có tiền sử phụ thuộc glucocorticoid; không đáp ứng hoặc gặp tác dụng ngoại ý không dung nạp với điều trị bước một; hoặc kém đáp ứng, không dung nạp với các liệu pháp tiến tiến như thuốc ức chế yếu tố hoại tử u alpha (anti-TNF-alpha), thuốc đối kháng thụ thể IL-12 hoặc IL-23 tiểu đơn vị p40.

Đặc điểm ban đầu của nhóm nghiên cứu gồm: tuổi trung bình 41,6 tuổi; 58% là nam giới; thời gian mắc viêm loét đại tràng trung bình 7,8 năm. Về mặt nội soi, phần lớn (60%) tổn thương giới hạn ở đại tràng trái, số còn lại viêm toàn bộ đại tràng. Trung vị điểm MMS là 6,6 điểm; trong đó 59% có phân điểm ES mức độ nặng và 41% ở mức độ trung bình.

Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào các nhóm dùng icotrokinra 1 lần/ngày với liều 400 mg (n=63), 200 mg (n=62), 100 mg (n=64) hoặc nhóm dùng giả dược (n=63), và được theo dõi trong 12 tuần.

Tiêu chí chính là tỷ lệ đáp ứng lâm sàng tại tuần thứ 12, định nghĩa là điểm MMS giảm ít nhất 30% và giảm ≥ 2 điểm so với ban đầu, kết hợp với phân điểm chảy máu trực tràng (RB) đạt 0–1 điểm hoặc giảm ≥ 1 điểm so với ban đầu.

Tỷ lệ đạt tiêu chí chính ở các nhóm dùng icotrokinra liều 400 mg, 200 mg và 100 mg lần lượt là 63%, 58% và 55%, đều cao hơn có ý nghĩa thống kê so với mức 27% ở nhóm giả dược.

Nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận bệnh nhân ở nhánh 400 mg có khả năng đạt lui bệnh lâm sàng tại tuần 12 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (phân điểm số lần đại tiện SF 0–1 điểm, phân điểm RB 0 điểm và phân điểm ES 0–1 điểm; tương ứng 30% so với 11%).

Bên cạnh đó, nhóm icotrokinra 400 mg đạt tỷ lệ lui bệnh triệu chứng tại tuần 12 vượt trội hơn nhóm đối chứng (SF 0–1 điểm, RB 0 điểm; 46% so với 19%), đồng thời ghi nhận tỷ lệ cải thiện nội soi cao hơn (ES 0–1 điểm; 37% so với 14%).

Ở nhánh 200 mg, có 24% bệnh nhân đạt lui bệnh lâm sàng tại tuần 12, tuy nhiên mức chênh lệch 13 điểm phần trăm so với nhánh giả dược không đạt ý nghĩa thống kê. Theo đề cương nghiên cứu, các phân tích kiểm định chính thức cho các tiêu chí phụ tiếp theo không được tiến hành thêm.

TS. Abreu cùng cộng sự nhấn mạnh: “The benefits of treatment with once-daily icotrokinra appeared to be generally sustained or improved through week 28 for all outcomes and doses tested” (tạm dịch: “Lợi ích điều trị khi dùng icotrokinra mỗi ngày một lần nhìn chung được duy trì hoặc cải thiện hơn cho đến tuần 28 trên tất cả các tiêu chí và các mức liều nghiên cứu”).

Nhóm nghiên cứu nhận định thêm: “Subgroup analyses of the week 12 and week 28 end points suggested that icotrokinra benefited participants with or without a history of unacceptable side effects with advanced therapies or an inadequate response to advanced therapies” (tạm dịch: “Phân tích phân nhóm theo các tiêu chí tại tuần 12 và tuần 28 cho thấy icotrokinra đều mang lại lợi ích cho người bệnh, bất kể trước đó có tiền sử không dung nạp tác dụng phụ hay đáp ứng kém với các liệu pháp điều trị tiến tiến hay không”).

Hồ sơ an toàn của icotrokinra tương đương với giả dược

Tính đến tuần 28, biến cố bất lợi (AE) được ghi nhận ở 60%, 66% và 66% bệnh nhân dùng icotrokinra các liều 400 mg, 200 mg và 100 mg, so với 62% ở nhóm dùng giả dược. Tỷ lệ nhiễm trùng tương ứng ở các nhóm lần lượt là 24%, 39%, 28% và 27%.

Tỷ lệ biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) xuất hiện ở 2% bệnh nhân dùng icotrokinra 400 mg, 5% ở nhóm 200 mg, 0% ở nhóm 100 mg và 10% ở nhóm giả dược. Nhóm tác giả bổ sung rằng trong số các bệnh nhân dùng icotrokinra, không ghi nhận trường hợp tử vong, nhiễm trùng nặng, ung thư, rối loạn chức năng gan nặng, biến cố tim mạch bất lợi nghiêm trọng hay thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch.

Các tác giả kết luận: “A phase 3 trial evaluating the efficacy and safety profile of icotrokinra in patients with ulcerative colitis is underway (ClinicalTrials.gov number, NCT07196748), as is a phase 2b–3 trial involving patients with Crohn’s disease (NCT07196722)” (tạm dịch: “Hiện một thử nghiệm pha 3 đánh giá hiệu quả và độ an toàn của icotrokinra trên bệnh nhân viêm loét đại tràng đang được triển khai ClinicalTrials.gov: NCT07196748, song song với một thử nghiệm pha 2b–3 trên bệnh nhân mắc bệnh Crohn NCT07196722”).