“Statin usage should be considered in the long-term treatment and management of glaucoma” (tạm dịch: “Nên cân nhắc việc sử dụng statin trong chiến lược điều trị và quản lý glaucoma lâu dài”), GS. Robert Weinreb (Đại học California San Diego, La Jolla, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự nhấn mạnh trên tạp chí British Journal of Ophthalmology.

Nhóm tác giả nhận định thêm: “these findings add to the growing literature surrounding the use of neuroprotective agents that complement ocular hypotensive medications or can be used independently of them to treat and prevent glaucoma” (tạm dịch: “những phát hiện này bổ sung thêm bằng chứng vào y văn ngày càng phong phú về việc ứng dụng các hoạt chất bảo vệ thần kinh, giúp bổ trợ cho các thuốc hạ nhãn áp hoặc dùng độc lập để dự phòng và kiểm soát glaucoma”).

Nguy cơ khởi phát glaucoma mới

Nhóm nghiên cứu đã đánh giá nguy cơ mắc glaucoma ở nhóm người dùng statin dựa trên cơ sở dữ liệu y tế TriNetX. Phân tích bao gồm 1.906.945 người trưởng thành trên 40 tuổi, trong đó 222.652 người có sử dụng statin trong giai đoạn 2006–2026 và 1.684.293 người không sử dụng. Toàn bộ đối tượng tham gia đều có dữ liệu theo dõi chuyên khoa mắt tối thiểu 1 năm trước thời điểm bắt đầu dùng statin hoặc trước ngày ghi nhận chỉ số nền.

Ở nhóm dùng statin, độ tuổi trung bình là 63 tuổi, nữ giới chiếm 56% và 67% là người da trắng; các con số này ở nhóm không dùng statin lần lượt là 60 tuổi, 60% nữ giới và 67% người da trắng.

Sau khi tiến hành ghép điểm xu hướng (propensity score matching) nhằm cân bằng các đặc điểm lâm sàng ban đầu, mỗi nhóm còn lại 210.701 đối tượng được đưa vào phân tích tỷ lệ mới mắc glaucoma.

Tại thời điểm theo dõi 5 năm, tỷ lệ khởi phát glaucoma góc mở mới ở nhóm dùng statin là 2,3%, so với 2,6% ở nhóm chứng. Các tác giả ghi nhận mức giảm nguy cơ có ý nghĩa thống kê là 15% ở những người điều trị bằng statin.

Hiệu quả bảo vệ của statin vẫn duy trì rõ rệt ở mốc 10 năm, với tỷ lệ mới mắc glaucoma giữa nhóm dùng statin và nhóm chứng lần lượt là 3,0% so với 3,2%, tương đương mức giảm nguy cơ 10% có ý nghĩa thống kê.

Kết cục về nguy cơ leo thang điều trị glaucoma

Phân tích mức độ leo thang điều trị được thực hiện trên 277.661 bệnh nhân glaucoma trên 40 tuổi, gồm 30.606 người có dùng statin và 247.055 người không dùng. Độ tuổi trung bình của hai nhóm lần lượt là 70 và 66 tuổi; tỷ lệ nữ giới tương ứng là 53% và 54%, tỷ lệ người da trắng là 55% và 49%.

Sau ghép cặp điểm xu hướng, mỗi nhóm còn 29.598 người bệnh. Trong 5 năm theo dõi, tỷ lệ cần can thiệp phẫu thuật glaucoma xâm lấn ở nhóm dùng statin và nhóm chứng lần lượt là 2,1% so với 3,4%; tỷ lệ phẫu thuật glaucoma xâm lấn tối thiểu (MIGS) là 1,7% so với 3,8%. Điều này tương ứng với mức giảm nguy cơ đáng kể, lần lượt là 36% đối với phẫu thuật xâm lấn và 55% đối với MIGS.

Tương tự, người bệnh dùng statin có tỷ lệ phải can thiệp tạo hình bè bằng laser chọn lọc (SLT) thấp hơn rõ rệt (2,2% so với 5,6%), đồng thời nhu cầu sử dụng thêm thuốc tra hạ nhãn áp tại chỗ cũng ít hơn (39,4% so với 44,6%), tương ứng với mức giảm nguy cơ lần lượt là 60% và 11%.

Đến mốc 10 năm, các nhà nghiên cứu nhận thấy việc điều trị statin vẫn liên quan độc lập đến sự sụt giảm có ý nghĩa thống kê về nguy cơ phải phẫu thuật glaucoma kinh điển (giảm 32%), phẫu thuật MIGS (giảm 46%), làm thủ thuật laser SLT (giảm 51%) và dùng thuốc hạ nhãn áp tại chỗ (giảm 12%).

Khi phân tích sâu hơn theo từng phân tử statin, nhóm tác giả nhận xét: “consistent results in those who only used atorvastatin and those who only used rosuvastatin” (tạm dịch: “ghi nhận kết quả đồng nhất ở những người chỉ dùng đơn độc atorvastatin hoặc rosuvastatin”), trong khi “results varied in those who only used simvastatin, pravastatin or lovastatin” (tạm dịch: “kết quả lại có sự dao động ở nhóm dùng simvastatin, pravastatin hoặc lovastatin”). Các nhà nghiên cứu cho rằng: “this may have been due to the significantly smaller cohort sizes” (tạm dịch: “điều này có thể bắt nguồn từ quy mô mẫu nhỏ hơn đáng kể ở các phân nhóm này”).

GS. Weinreb và cộng sự cũng lưu ý hạn chế của nghiên cứu là “unable to assess open-angle glaucoma progression and severity at a more granular, patient-level scale” (tạm dịch: “chưa thể đánh giá mức độ tiến triển và độ nặng của glaucoma góc mở ở mức độ chi tiết hơn trên từng cá thể người bệnh”), do cơ sở dữ liệu TriNetX không thu thập các thông số như nhãn áp, thị lực, thị trường hay chẩn đoán hình ảnh thần kinh thị giác.

Từ đó, nhóm tác giả kết luận: “prospective randomised trials are needed to better understand the effects of statin use on glaucoma incidence and treatment” (tạm dịch: “Cần triển khai thêm các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng tiến cứu để làm sáng tỏ đầy đủ vai trò của statin đối với tỷ lệ mới mắc và các bước can thiệp điều trị bệnh glaucoma”).