“This approach refines diagnostic accuracy and has implications for personalised therapeutic strategies,” (tạm dịch: “Cách tiếp cận này giúp tinh chỉnh độ chính xác của chẩn đoán và mở ra những định hướng quan trọng cho các chiến lược điều trị cá thể hóa”), theo nhận định của TS. Niklas Mattsson-Carlgren (Đại học Lund, Thụy Điển) cùng các cộng sự trên tạp chí The Lancet Neurology.

Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng bệnh lý Alzheimer có thể được xác định chính xác thông qua các dấu ấn sinh học Nhóm 1 (Core 1), điển hình là p-tau217 huyết tương (tau phosphoryl hóa tại vị trí acid amin 217), nhằm đánh giá sự hiện diện của mảng thoái hóa amyloid-β và các đám rối tơ thần kinh.

Để đánh giá liệu việc sử dụng tuần tự một dấu ấn sinh học Nhóm 2 (Core 2) có sự biến thiên theo thời gian sau chẩn đoán—cụ thể là eMTBR-tau243 huyết tương (vùng gắn vi ống tau243)—có thể xác định tổn thương Alzheimer này có thực sự là nguyên nhân gây suy giảm nhận thức hay không, các tác giả đã tiến hành một nghiên cứu tiến cứu trên các đối tượng trưởng thành được tuyển chọn từ hai phòng khám trí nhớ thuộc chương trình nghiên cứu BioFINDER-2 của Thụy Điển.

Từ tháng 5/2017 đến tháng 9/2023, nhóm nghiên cứu đã thu nhận 572 người bệnh (51% là nữ giới), bao gồm 142 trường hợp suy giảm nhận thức chủ quan, 259 trường hợp suy giảm nhận thức nhẹ và 171 bệnh nhân sa sút trí tuệ, được phân loại dựa trên các bài đánh giá chức năng nhận thức và thăm khám lâm sàng. Tổng cộng có 200 bệnh nhân (chiếm 35%) đã xác chẩn bệnh Alzheimer thông qua các dấu ấn sinh học trong dịch não tủy (CSF) hoặc trên xạ hình cắt lớp phát xạ positron (PET).

Kết quả phân tích khối phổ ghi nhận 350 bệnh nhân (61%) dương tính với p-tau217 huyết tương, được định lượng dưới dạng tỷ lệ so với peptide tham chiếu không phosphoryl hóa (%p-tau217) với điểm cắt là 0,978. Trong nhóm này, 97% đồng thời dương tính với amyloid-β trên xét nghiệm dịch não tủy hoặc PET, “confirming the high PPV positive predictive value of %p-tau217 for amyloid-β pathology,” (tạm dịch: “khẳng định giá trị dự đoán dương tính rất cao của %p-tau217 đối với tổn thương giải phẫu bệnh do amyloid-β”), và chỉ có 14% trường hợp âm tính với %p-tau217 mang kết quả amyloid-β dương tính.

Tuy nhiên, nhóm tác giả lưu ý rằng chỉ 57% bệnh nhân dương tính với %p-tau217 thực sự mắc bệnh Alzheimer trên lâm sàng, phần còn lại được xem là dương tính giả. Điều này cho thấy nồng độ %p-tau217 tăng cao “does not inform on if Alzheimer’s disease pathology contributes to cognitive symptoms of the disease,” (tạm dịch: “không thể hiện được liệu bệnh lý Alzheimer có thực sự là yếu tố dẫn đến các triệu chứng suy giảm nhận thức hay không”), TS. Mattsson-Carlgren và cộng sự nhận định.

Tổng thể, 55% bệnh nhân có %p-tau217 dương tính cũng đồng thời dương tính với eMTBR-tau243 (với điểm cắt 0,00132 fmol/L). Kết quả phân tích chỉ ra rằng sự hiện diện của eMTBR-tau243 giúp dự đoán bệnh Alzheimer ở nhóm bệnh nhân có %p-tau217 dương tính với giá trị dự đoán dương tính (PPV) đạt 84%, giá trị dự đoán âm tính (NPV) đạt 77% và độ chính xác chung là 81%.

Ở nhóm bệnh nhân dương tính với %p-tau217, những trường hợp có eMTBR-tau243 dương tính ghi nhận gánh nặng lắng đọng tau ban đầu tại tất cả các vùng não được khảo sát cao hơn rõ rệt so với nhóm eMTBR-tau243 âm tính, đồng thời tốc độ tích tụ protein tau cũng diễn ra nhanh hơn trong thời gian theo dõi trung bình 2,1 năm. Tương tự, kết quả các bài kiểm tra nhận thức ở thời điểm ban đầu và sau trung bình 1,5 năm theo dõi cũng suy giảm nghiêm trọng hơn ở nhóm dương tính với cả hai dấu ấn sinh học so với nhóm chỉ đơn thuần dương tính với %p-tau217.

Khi so sánh giá trị của %p-tau217 đơn độc với mô hình phối hợp %p-tau217 và eMTBR-tau243 trên nhiều kịch bản tỷ lệ hiện mắc bệnh Alzheimer mô phỏng (từ 10% đến 90%), phác đồ kết hợp cho thấy độ nhạy thấp hơn (81,9% so với 99,5%) nhưng đạt độ đặc hiệu vượt trội hơn rõ rệt (79,4% so với 59,9%).

Nhóm tác giả kết luận: “The combination of %p-tau217 and eMTBR-tau243 consistently improved PPV, with very strong improvement (>20%) until a prevalence of 50%,” (tạm dịch: “Phối hợp %p-tau217 và eMTBR-tau243 liên tục cải thiện giá trị dự đoán dương tính, đặc biệt nâng cao rõ rệt (>20%) cho đến khi tỷ lệ hiện mắc đạt ngưỡng 50%”).

Khi lặp lại phân tích chính trên đoàn hệ từ Trung tâm Nghiên cứu Bệnh Alzheimer Knight gồm 52 đối tượng không suy giảm nhận thức (Thang đánh giá sa sút trí tuệ lâm sàng CDR=0,5; n=39) hoặc có suy giảm nhận thức (CDR=1–2; n=13), các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận kết quả tương đồng.

Đánh giá cao công trình nghiên cứu này, chuyên gia Nicholas Ashton (Viện Alzheimer Banner và Đại học Arizona, Phoenix, Hoa Kỳ) đã nhận định trong bài bình luận đi kèm rằng chiến lược xét nghiệm tuần tự do nhóm tác giả đề xuất “moves the field beyond amyloid detection toward biologically informed diagnosis and stratification.” (tạm dịch: “đã đưa chuyên ngành tiến xa hơn việc chỉ đơn thuần phát hiện amyloid, hướng tới chẩn đoán và phân tầng dựa trên cơ sở sinh học”).

Ông phân tích thêm: “In clinical practice, such an approach could improve diagnostic confidence, reduce inappropriate attribution of symptoms to amyloid pathology alone, and better align patients with therapeutic strategies according to their biological stage.” (tạm dịch: “Trong thực hành lâm sàng, tiếp cận này có thể gia tăng mức độ tin cậy của chẩn đoán, giảm thiểu việc quy kết thiếu căn cứ các triệu chứng nhận thức chỉ do bệnh lý amyloid, đồng thời cá thể hóa phác đồ điều trị phù hợp nhất theo từng giai đoạn sinh học của người bệnh”).

Chuyên gia Ashton nhấn mạnh điều này sẽ trở thành yếu tố “essential” (tạm dịch: “then chốt”) trong bối cảnh các liệu pháp điều chỉnh diễn tiến bệnh ngày càng phổ biến, “not only for treatment selection, but also for avoiding both overdiagnosis and missed opportunities for timely intervention.” (tạm dịch: “không chỉ giúp định hướng lựa chọn điều trị, mà còn tránh được cả chẩn đoán quá mức lẫn nguy cơ bỏ sót cơ hội can thiệp kịp thời”).