Công bố trên tạp chí The Lancet Rheumatology, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng tình trạng kiểm soát kém các yếu tố nguy cơ tim mạch thậm chí còn rõ rệt hơn ở nhóm bệnh nhân APS nguyên phát so với nhóm APS thứ phát sau lupus ban đỏ hệ thống (SLE).

“Raising awareness of the high cardiovascular disease risk in APS among both patients and physicians and implementing rigorous screening and control of traditional cardiovascular risk factors following guideline-recommended measures are crucial steps to improving cardiovascular health in people with APS, especially those with primary APS” (tạm dịch: “Nâng cao nhận thức về nguy cơ tim mạch cao ở bệnh nhân APS cho cả thầy thuốc lẫn người bệnh, đồng thời triển khai tầm soát và kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển theo khuyến cáo là những bước đi then chốt nhằm cải thiện sức khỏe tim mạch cho người bệnh APS, đặc biệt là nhóm APS nguyên phát”), tác giả Maria Tektonidou (Đại học Quốc gia và Kapodistrian Athens, Bệnh viện Đa khoa Laiko, Hy Lạp) cùng các cộng sự kết luận.

Trong bài bình luận đi kèm, hai chuyên gia Can Huang và Mengtao Li thuộc Bệnh viện Đại học Y Liên hiệp Bắc Kinh (Trung Quốc) nhận định các phát hiện này là “highly valuable” (tạm dịch: “vô cùng giá trị”).

Nhóm tác giả lý giải rằng biến cố tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở cả bệnh nhân APS nguyên phát lẫn APS liên quan đến SLE, trong đó đột quỵ thiếu máu não cục bộ và bệnh mạch vành là hai bệnh cảnh thường gặp nhất. Gánh nặng tim mạch về mặt lý thuyết có thể nặng nề hơn ở nhóm APS thứ phát sau SLE “due to the additional effect of SLE-related risk factors such as immune dysregulation, chronic inflammation, and the use of medications associated with increased cardiovascular risk” (tạm dịch: “do tác động cộng hưởng từ các yếu tố nguy cơ liên quan đến SLE như rối loạn điều hòa miễn dịch, viêm mạn tính và việc sử dụng các thuốc làm tăng nguy cơ tim mạch”).

Chính vì vậy, nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân APS nguyên phát “are often overlooked” (tạm dịch: “thường bị xem nhẹ hoặc bỏ sót”) khi so sánh với nhóm APS trên nền SLE, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh.

Nghiên cứu Khảo sát Yếu tố Nguy cơ Bệnh Tim mạch (SURF) được tiến hành trên 1003 bệnh nhân trưởng thành tại 17 trung tâm thuộc 11 quốc gia trải dài khắp châu Âu, Bắc Mỹ, Mỹ Latinh và châu Á. Tất cả đều thỏa tiêu chuẩn phân loại Sapporo sửa đổi cho APS, bao gồm ít nhất một biến cố lâm sàng (huyết khối mạch máu hoặc biến chứng thai kỳ) kèm theo kháng thể kháng phospholipid dương tính kéo dài.

Phần lớn đối tượng nghiên cứu là nữ giới (78%) và người da trắng (66%). Độ tuổi trung vị là 47 tuổi và thời gian mắc bệnh trung vị là 11 năm.

Trong số này, 46% bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn SLICC 2012 của SLE và được xếp vào nhóm APS liên quan đến SLE; số còn lại thuộc nhóm APS nguyên phát. Các trường hợp mắc bệnh tự miễn hệ thống khác ngoài SLE đều bị loại khỏi nghiên cứu.

So với nhóm APS liên quan đến SLE, bệnh nhân APS nguyên phát có xu hướng trẻ tuổi hơn đôi chút, thời gian mắc bệnh ngắn hơn và ít sử dụng glucocorticoid hay hydroxychloroquine tại thời điểm khảo sát.

Hồ sơ bệnh án được dùng để xác định tỷ lệ hiện mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch; mức độ nguy cơ tim mạch được lượng giá bằng thang điểm SCORE, trong khi các ngưỡng kiểm soát đích được đánh giá dựa theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Châu Âu (ESC).

Tính chung toàn bộ đoàn hệ, tỷ lệ hiện diện các yếu tố nguy cơ tim mạch ở mức rất cao: 41% tăng huyết áp, 34% rối loạn lipid máu, 32% béo phì và 19% đang hút thuốc lá. Tổng cộng có tới 37% bệnh nhân được phân tầng vào nhóm nguy cơ tim mạch rất cao.

Tăng huyết áp xuất hiện phổ biến hơn ở nhóm APS nguyên phát so với APS liên quan đến SLE (50% so với 33%), tương tự là rối loạn lipid máu (40% so với 30%). Ngược lại, tỷ lệ đang hút thuốc ở nhóm APS nguyên phát thấp hơn (16% so với 22%).

Đáng lưu ý, bệnh nhân APS nguyên phát có tỷ lệ đạt mục tiêu cai thuốc lá thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm APS liên quan đến SLE (78% so với 84%), cũng như mục tiêu kiểm soát huyết áp dưới 130/80 mmHg (48% so với 57%). Nhóm này cũng có tỷ lệ đạt ít nhất 2 mục tiêu can thiệp (gồm cai thuốc lá, BMI, huyết áp và LDL-cholesterol) thấp hơn rõ rệt (72% so với 82%).

Xu hướng chênh lệch bất lợi này vẫn giữ nguyên khi nhóm tác giả phân tích biệt lập trên 394 bệnh nhân thuộc phân nhóm nguy cơ tim mạch cao và rất cao.

Khi phân tích đa biến có hiệu chỉnh đầy đủ, tuổi cao có mối liên quan độc lập với việc giảm khả năng đạt toàn bộ 4 mục tiêu kiểm soát yếu tố nguy cơ tim mạch (tỷ số chênh OR = 0,95 cho mỗi năm tuổi tăng thêm). Tương tự, tiền sử huyết khối động mạch cũng làm giảm khả năng đạt mục tiêu toàn diện với OR = 0,37.

Các chuyên gia bình luận cho rằng nghiên cứu này “underscores the importance of systematically screening for and aggressively managing traditional cardiovascular risk factors in all patients with APS” (tạm dịch: “nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tầm soát có hệ thống và can thiệp tích cực các yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển trên tất cả bệnh nhân APS”). Họ cũng nêu bật sự cần thiết của các nghiên cứu tiến cứu “to evaluate whether improved control of these modifiable factors translates into better long-term outcomes and reduced thrombotic recurrence” (tạm dịch: “nhằm đánh giá liệu việc kiểm soát tối ưu các yếu tố có thể thay đổi này có thực sự mang lại kết cục dài hạn khả quan hơn và giảm nguy cơ tái phát huyết khối hay không”).