“Together, these results underscore the importance of integrated prevention approaches that combine structured physical activity with reductions in sedentary time to optimize cardiovascular health,” (tạm dịch: “Tổng thể các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của các chiến lược dự phòng tích hợp—kết hợp rèn luyện thể lực bài bản với việc giảm thiểu thời gian tĩnh tại nhằm tối ưu hóa sức khỏe tim mạch”), GS. Edward Giovannucci (Trường Y tế Công cộng Harvard TH Chan, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ) và các cộng sự nhận định trên tạp chí Journal of the American College of Cardiology.

Các hướng dẫn hoạt động thể lực tại Hoa Kỳ khuyến cáo nên tập kháng lực ít nhất 2 ngày mỗi tuần, kết hợp với 150 phút hoạt động aerobic cường độ từ trung bình đến mạnh; tuy vậy, “yet the independent association of resistance training and CVD risk, particularly among middle-aged and older women, remains unclear,” (tạm dịch: “mối liên quan độc lập giữa tập luyện kháng lực và nguy cơ bệnh tim mạch, đặc biệt ở phụ nữ tuổi trung niên và cao tuổi, vẫn chưa được làm sáng tỏ”), nhóm tác giả cho biết.

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng hiện còn rất ít công trình khảo sát đồng thời việc tập kháng lực, vận động aerobic và hành vi tĩnh tại (đặc biệt là thói quen xem tivi) như một mô hình vận động tích hợp tác động lên nguy cơ tim mạch tổng thể.

Do đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích thuần tập tiến cứu trên 45.669 phụ nữ (tuổi trung bình 66,8) từ Nghiên cứu Sức khỏe Y tá (NHS) và 71.356 phụ nữ (tuổi trung bình 48,1) từ NHS II. Thời điểm ban đầu được xác định lần lượt vào năm 2002 và 2003, tức 2 năm sau đợt đánh giá ban đầu về tập luyện kháng lực.

Tại thời điểm bắt đầu theo dõi, không có người tham gia nào có tiền sử mắc các bệnh mạn tính nặng, bao gồm nhồi máu cơ tim, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, đau thắt ngực, đột quỵ hoặc ung thư.

Mức độ hoạt động thể lực được đánh giá lặp lại định kỳ qua các bộ câu hỏi tự điền đã được chuẩn hóa. Việc tập luyện kháng lực được ghi nhận khoảng 4 năm một lần dựa trên tổng thời gian rèn luyện cơ tay và chân. Vận động aerobic được lượng hóa theo tổng số đương lượng chuyển hóa theo giờ mỗi tuần (MET-giờ/tuần) cho toàn bộ hoạt động được báo cáo. Các biến cố tim mạch được xác nhận qua hồ sơ bệnh án.

Ở thời điểm ban đầu, nhóm phụ nữ tập kháng lực nhiều hơn thường có chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp hơn, mức độ hoạt động aerobic cao hơn và điểm chất lượng bữa ăn theo thang Chỉ số Ăn uống Lành mạnh Thay thế 2010 (AHEI-2010) vượt trội hơn. Nhóm này cũng có tỷ lệ mắc đái tháo đường, tăng huyết áp và tăng cholesterol máu thấp hơn so với những người không tập kháng lực; đồng thời ít dành thời gian tĩnh tại để xem tivi và sử dụng vitamin tổng hợp nhiều hơn.

Trong thời gian theo dõi trung bình 14,5 năm (tương đương 1.630.964 người–năm), đã ghi nhận 5.459 trường hợp mới mắc biến cố tim mạch chính trên cả hai đoàn hệ NHS và NHS II, bao gồm nhồi máu cơ tim tử vong hoặc không tử vong, đột quỵ, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành hoặc can thiệp động mạch vành qua da. Tổng cộng có 1.681 ca nhồi máu cơ tim và 1.944 ca đột quỵ.

So với những người không tập kháng lực, phụ nữ duy trì tập từ 2 giờ/tuần trở lên giảm đáng kể nguy cơ gặp biến cố tim mạch chính, với tỷ số nguy cơ gộp (HR) là 0,80. Khi phân tích dưới dạng biến số liên tục, mỗi 1 giờ tập kháng lực tăng thêm mỗi tuần tương ứng với mức giảm 5% nguy cơ bệnh tim mạch. Mối liên quan này vẫn có ý nghĩa thống kê sau khi đã hiệu chỉnh thêm chỉ số BMI cùng các yếu tố nguy cơ tim mạch – chuyển hóa.

Trên phân tích gộp, phụ nữ tập kháng lực từ 2 giờ/tuần trở lên cũng giảm rõ rệt nguy cơ nhồi máu cơ tim so với người không tập (HR = 0,56). Cứ thêm 1 giờ tập kháng lực mỗi tuần giúp giảm 14% nguy cơ nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tập kháng lực và nguy cơ đột quỵ.

Những phụ nữ đạt đồng thời cả ba mục tiêu khuyến cáo: tối thiểu 15 MET-giờ/tuần đối với aerobic, ít nhất 1 giờ/tuần tập kháng lực và xem tivi dưới 2 giờ/ngày có nguy cơ mắc biến cố tim mạch chính (HR = 0,60), nhồi máu cơ tim (HR = 0,51) và đột quỵ (HR = 0,65) thấp hơn rõ rệt so với nhóm không đạt mục tiêu nào.

Mức giảm nguy cơ tim mạch chính ở nhóm chỉ đạt mục tiêu aerobic và hạn chế xem tivi thấp hơn so với nhóm kết hợp thêm cả tập kháng lực (HR lần lượt là 0,73 so với 0,60). Việc đạt cả hai mục tiêu tập kháng lực và hạn chế xem tivi giúp giảm đáng kể nguy cơ biến cố tim mạch chính (HR = 0,69) và nhồi máu cơ tim (HR = 0,56), nhưng không làm giảm nguy cơ đột quỵ. Chỉ riêng việc giảm thời gian xem tivi cũng mang lại mức giảm nhẹ nguy cơ biến cố tim mạch chính nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê (HR = 0,95).

“While our findings are based on observational data and cannot establish causality, they provide supportive evidence that resistance training, alongside aerobic activity and reductions in sedentary behavior, may be an important component of public health strategies for cardiovascular prevention in women,” (tạm dịch: “Dù các phát hiện của chúng tôi dựa trên dữ liệu quan sát và chưa thể xác lập mối quan hệ nhân quả, nhưng đây là bằng chứng thuyết phục cho thấy tập luyện kháng lực, kết hợp với vận động aerobic và giảm bớt hành vi tĩnh tại, có thể là một mắt xích trọng yếu trong các chiến lược y tế công cộng nhằm dự phòng bệnh tim mạch ở phụ nữ”), các tác giả nghiên cứu kết luận.