TÓM TẮT
Tiên lượng ở bệnh nhân ung thư bàng quang cao tuổi
- Ung thư bàng quang là bệnh lý phổ biến ở người cao tuổi. Bệnh nhân cao tuổi cũng có tỷ lệ tử vong cao hơn sau khi được chẩn đoán ung thư bàng quang. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định điều trị
- Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ các hướng dẫn điều trị ung thư bàng quang, bao gồm tuổi tác, bệnh đồng mắc, tình trạng chức năng, mục tiêu điều trị (triệt căn hay giảm nhẹ), kỳ vọng sống, sự hỗ trợ từ người chăm sóc và mục tiêu chăm sóc. Cần có sự đánh giá đa chuyên khoa. Để đưa ra phương án điều trị phù hợp hơn, bệnh nhân cao tuổi cũng có thể được đánh giá lão khoa toàn diện (CGA). (Xem ‘Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định điều trị’ và ‘Sinh lý bệnh ở người cao tuổi’ ở dưới.)
Bệnh nhân có tình trạng sức khỏe tốt
- Đối với những bệnh nhân có tình trạng sức khỏe và sinh lý tốt (tức là chỉ số trạng thái hoạt động (bảng 1) tốt và có ít hoặc không có bệnh đồng mắc nghiêm trọng), phương pháp điều trị tương tự như ở bệnh nhân trẻ tuổi. Mặc dù bệnh nhân cao tuổi có thể có nguy cơ biến chứng liên quan đến điều trị cao hơn, nhưng kết quả sống còn của nhóm bệnh nhân cao tuổi có sức khỏe tốt là tương đương với bệnh nhân trẻ tuổi. (Xem ‘Bệnh nhân có tình trạng sức khỏe tốt’ ở dưới.)
Ung thư bàng quang không xâm lấn cơ
- Đối với bệnh nhân có sức khỏe tốt mắc ung thư bàng quang không xâm lấn cơ, phương pháp điều trị thường bao gồm cắt bỏ u bàng quang qua đường niệu đạo tối đa (TURBT). Tùy thuộc vào phân tầng nguy cơ, sau TURBT có thể là liệu pháp nội bàng quang (thuật toán 1). Các chi tiết cụ thể được thảo luận riêng. (Xem ‘Ung thư bàng quang không xâm lấn cơ’ ở dưới và “Điều trị ung thư bàng quang không xâm lấn cơ nguyên phát”.)
Ung thư bàng quang xâm lấn cơ
- Đối với bệnh nhân có sức khỏe tốt mắc ung thư bàng quang xâm lấn cơ (thuật toán 2), các lựa chọn điều trị phổ biến nhất bao gồm liệu pháp toàn thân tân bổ trợ tiếp nối bằng cắt bàng quang triệt căn (kèm liệu pháp bổ trợ nếu có chỉ định) hoặc liệu pháp ba chế độ bảo tồn bàng quang (TURBT tiếp nối bằng hóa xạ trị đồng thời). Các chi tiết cụ thể được thảo luận riêng. (Xem “Tổng quan về quản lý ban đầu ung thư biểu mô đường niệu bàng quang”, phần ‘Ung thư bàng quang xâm lấn cơ’; “Liệu pháp tân bổ trợ cho ung thư biểu mô đường niệu xâm lấn cơ khu trú của bàng quang”; “Liệu pháp bổ trợ cho ung thư biểu mô đường niệu xâm lấn cơ của bàng quang” và “Các lựa chọn điều trị bảo tồn bàng quang cho ung thư biểu mô đường niệu bàng quang xâm lấn cơ”.)
Bệnh nhân có tình trạng sức khỏe yếu
- Đối với bệnh nhân có tình trạng sức khỏe yếu (ví dụ: suy giảm nhận thức, có bệnh đồng mắc, suy giảm chức năng thể chất và/hoặc chỉ số trạng thái hoạt động kém), cần phải cân nhắc các nguy cơ khi phẫu thuật, xạ trị (RT) và/hoặc liệu pháp toàn thân khi lập kế hoạch điều trị cá thể hóa. Chúng tôi chuyển các bệnh nhân này đến Phòng khám Ung thư Lão khoa đa chuyên khoa để đánh giá lão khoa như một phần của việc lập kế hoạch điều trị. Những bệnh nhân có kỳ vọng sống hạn chế và những người muốn tránh độc tính liên quan đến điều trị nên được cung cấp chăm sóc hỗ trợ và chuyển đến các dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ. (Xem ‘Bệnh nhân có tình trạng sức khỏe yếu’ ở dưới.)
Ung thư bàng quang không xâm lấn cơ
- Đối với bệnh nhân yếu mắc ung thư bàng quang không xâm lấn cơ có thể dung nạp gây mê, phương pháp TURBT thường là phù hợp. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ trung bình hoặc cao, chúng tôi tiếp cận bằng cách thực hiện liệu pháp nội bàng quang cho những người có nguy cơ biến chứng thấp, đặc biệt nếu kỳ vọng sống của họ tính bằng năm. (Xem ‘Ung thư bàng quang không xâm lấn cơ’ ở dưới và “Điều trị ung thư bàng quang không xâm lấn cơ nguyên phát”.)
Ung thư bàng quang xâm lấn cơ
- Đối với bệnh nhân yếu mắc ung thư bàng quang xâm lấn cơ, phương pháp điều trị phụ thuộc vào các bệnh đồng mắc, tình trạng sức khỏe tổng quát cũng như mong muốn và sở thích của bệnh nhân. (Xem ‘Ung thư bàng quang xâm lấn cơ’ ở dưới.)
Bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật
- Đối với những bệnh nhân có khả năng phẫu thuật về mặt y khoa và ưu tiên phương pháp phẫu thuật, chúng tôi đề xuất cắt bàng quang nguyên phát tiếp nối bằng theo dõi thay vì các liệu pháp phẫu thuật không nhằm mục đích triệt căn khác (Khuyến cáo 2C). Vai trò của liệu pháp toàn thân tân bổ trợ hoặc bổ trợ ở những bệnh nhân này là hạn chế. (Xem ‘Bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật’ ở dưới; ‘Liệu pháp tân bổ trợ hoặc bổ trợ có vai trò gì không?’ ở dưới và “Cắt bàng quang triệt căn”.)
Bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật
- Đối với những bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật hoặc những người lựa chọn phương pháp điều trị bảo tồn bàng quang, chúng tôi đề xuất hóa xạ trị đồng thời thay vì chỉ xạ trị hoặc chỉ dùng liệu pháp toàn thân (Khuyến cáo 2C). Đối với những trường hợp không đủ điều kiện hoặc từ chối xạ trị, liệu pháp toàn thân giảm nhẹ cho bệnh tiến triển/di căn là một lựa chọn thay thế hợp lý. (Xem ‘Bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật’ ở dưới.)
Bệnh tái phát hoặc di căn
- Đối với bệnh nhân cao tuổi có bệnh tái phát hoặc di căn, kỳ vọng sống thường bị hạn chế. Các quyết định điều trị cần tính đến mục tiêu và nguyện vọng của bệnh nhân. Các chi tiết cụ thể về quản lý ung thư biểu mô đường niệu di căn được thảo luận riêng (thuật toán 3). (Xem “Điều trị ung thư biểu mô đường niệu di căn của bàng quang và đường tiết niệu”.)
