Bác sĩ Amir Mohareb (Bệnh viện Đa khoa Massachusetts, Boston, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự nhấn mạnh rằng dữ liệu nghiên cứu “should motivate policymakers and clinicians to consider reimplementation of the prior recommendation for universal childhood HBV vaccination at birth.” (tạm dịch: “cần thôi thúc các nhà hoạch định chính sách và bác sĩ lâm sàng cân nhắc tái áp dụng khuyến cáo tiêm vắc-xin HBV sơ sinh toàn diện như trước đây”).

Nhóm tác giả nhận định thêm: “Even a small number of additional infections in childhood could have large clinical, public health, and economic effects, given that most childhood infections are asymptomatic and may persist to be lifelong infections.” (tạm dịch: “Dù chỉ một lượng nhỏ ca nhiễm mới ở thời thơ ấu cũng có thể gây ra những tác động to lớn về lâm sàng, y tế công cộng và gánh nặng kinh tế, bởi phần lớn các ca nhiễm ở lứa tuổi này đều thầm lặng và tiềm ẩn nguy cơ cao tiến triển thành nhiễm trùng mạn tính suốt đời”).

Những thay đổi trong chiến lược tiêm chủng đại trà

Từ năm 1991, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã ban hành khuyến cáo tiêm chủng vắc-xin HBV phổ cập cho toàn bộ trẻ sơ sinh. Đến năm 2018, khuyến cáo này được cụ thể hóa bằng việc chỉ định tiêm liều sơ sinh trong vòng 24 giờ đầu sau sinh (birth dose).

Tuy nhiên, vào tháng 12 năm 2025, Ủy ban Cố vấn về Thực hành Tiêm chủng (ACIP) đã đưa ra khuyến nghị áp dụng hình thức “individual-based decision-making for parents deciding when or if to give the HBV vaccine, including birth dose” (tạm dịch: “cá thể hóa quyết định của cha mẹ về việc có tiêm hoặc thời điểm tiêm vắc-xin HBV, bao gồm cả liều sơ sinh”) đối với trẻ sinh ra từ các sản phụ có kháng nguyên bề mặt HBsAg âm tính.

Nhóm nghiên cứu của Mohareb chỉ ra rằng sự thay đổi chiến lược này hoàn toàn không xuất phát từ “any new or existing evidence of vaccine harm or toxicity,” (tạm dịch: “bất kỳ bằng chứng mới hay hiện hữu nào về tác hại hoặc độc tính của vắc-xin”), đồng thời lưu ý rằng chỉ định tiêm liều sơ sinh đối với trẻ có mẹ nhiễm HBV hoặc chưa rõ tình trạng HBsAg vẫn được giữ nguyên.

Mặc dù vậy, đến tháng 1 năm 2026, CDC tiếp tục công bố cập nhật toàn bộ lịch tiêm chủng ở trẻ em, chỉ khuyến cáo tiêm vắc-xin HBV cho “certain, high-risk groups,” (tạm dịch: “một số nhóm có nguy cơ cao nhất định”) dựa trên phương thức “shared clinical decision-making” (tạm dịch: “chia sẻ cùng ra quyết định lâm sàng”) thay vì duy trì chiến lược tiêm chủng đại trà.

Mô hình hóa nguy cơ khi dỡ bỏ tiêm chủng đại trà

Để đánh giá tác động lâm sàng của các thay đổi chính sách này, Mohareb và nhóm cộng sự đã xây dựng mô hình phân tích so sánh ba chiến lược tiêm chủng:

1) Tiêm liều sơ sinh toàn diện cho mọi trẻ, tương ứng với khuyến cáo của ACIP trước tháng 12 năm 2025;
2) Trì hoãn tiêm chủng đến tháng thứ 2 đối với trẻ có mẹ không nhiễm HBV, phù hợp với khuyến cáo của ACIP tháng 12 năm 2025;
3) Chia sẻ cùng ra quyết định lâm sàng về việc tiêm mũi 2 tháng tuổi cho trẻ có mẹ không nhiễm HBV, theo cập nhật của CDC tháng 1 năm 2026.

Mô hình dựa trên giả định một đoàn hệ gồm 3,6 triệu trẻ sinh năm 2026 tại Hoa Kỳ và được theo dõi đến năm 20 tuổi. Tỷ lệ lưu hành HBV ở sản phụ được xác định là 0,4% theo y văn; độ nhạy của xét nghiệm HBsAg đạt 99,5%; tỷ lệ bao phủ vắc-xin đạt 91,1% với chiến lược tiêm liều sơ sinh đại trà và 87,1% với chiến lược trì hoãn tiêm (dựa theo số liệu của CDC). Đối với chiến lược chia sẻ cùng ra quyết định, nhóm tác giả ước tính tỷ lệ tiêm chủng chỉ đạt khoảng 50,0%.

Nguy cơ bùng phát ca nhiễm HBV và gia tăng quần thể nhạy cảm

Kết quả nghiên cứu công bố trên tạp chí Annals of Internal Medicine ghi nhận: chiến lược tiêm liều sơ sinh đại trà ước tính chỉ có 255 ca nhiễm HBV mạn tính trong đoàn hệ tính đến năm 20 tuổi. Con số này sẽ tăng thêm 19% (lên 303 ca) khi áp dụng chiến lược trì hoãn và tăng vọt tới 83% (lên 467 ca) nếu chuyển sang chiến lược chia sẻ cùng ra quyết định.

Các chiến lược thay đổi này cũng làm gia tăng đáng kể số người không có miễn dịch bảo vệ trước HBV ở thời điểm 20 tuổi: từ mức 232.000 người ở chiến lược tiêm chủng toàn diện, tăng lên 474.000 người ở nhóm trì hoãn và lên tới 1.806.000 người (tương đương 50% toàn bộ đoàn hệ) ở nhóm tiêm chủng dựa trên quyết định chia sẻ.

Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm thêm nhiều kịch bản với các mức độ bao phủ vắc-xin và tỷ lệ HBsAg ở người mẹ khác nhau. Tất cả kịch bản đều cho thấy sự gia tăng rõ rệt số ca nhiễm HBV mạn tính cũng như số cá thể có nguy cơ phơi nhiễm cao so với phác đồ tiêm sơ sinh thường quy.

Mohareb và các đồng nghiệp cảnh báo rằng sự hiện diện của một quần thể người trưởng thành đông đảo thiếu miễn dịch bảo vệ với HBV “should be of concern to policymakers and clinicians because the incidence rate of acute HBV infection has been increasing in many parts of the United States, particularly related to injection drug use.” (tạm dịch: “cần phải là mối lo ngại lớn đối với các nhà hoạch định chính sách và bác sĩ lâm sàng, bởi tỷ lệ mới mắc HBV cấp tính đang gia tăng tại nhiều khu vực ở Hoa Kỳ, đặc biệt liên quan đến tiêm chích ma túy”).

Nhóm tác giả kết luận: “In general, acute HBV infection is more severe in adulthood than in childhood and can lead to fulminant liver failure, as well as cirrhosis and hepatocellular carcinoma among people who progress to chronic HBV infection, which has no cure.” (tạm dịch: “Nhìn chung, nhiễm HBV cấp ở tuổi trưởng thành có diễn tiến lâm sàng nặng nề hơn nhiều so với trẻ nhỏ, có thể dẫn đến suy gan tối cấp, cũng như để lại hệ quả xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan ở những người bệnh tiến triển sang thể mạn tính – một tình trạng hiện vẫn chưa thể điều trị khỏi hoàn toàn”).