“Although the observed patterns suggest directions worth exploring, this study was not designed or powered to establish clinically actionable thresholds or generalize to the broader dementia population, and all findings should be considered preliminary,” (tạm dịch: “Dù các biến đổi ghi nhận được mở ra những hướng tiếp cận giàu tiềm năng, nghiên cứu này chưa được thiết kế cũng như chưa đủ cỡ mẫu để xác lập các ngưỡng can thiệp lâm sàng hay khái quát hóa cho toàn bộ quần thể sa sút trí tuệ; do đó, mọi kết quả hiện tại mới dừng ở mức sơ bộ”), GS. Ruikang Wang (Đại học Washington, Seattle) cùng các cộng sự lưu ý.
“Validation in larger and longitudinal studies will be essential to determine their prognostic value and to establish OCTA as a practical clinical tool for early detection and monitoring of cognitive impairment.” (tạm dịch: “Cần có thêm các nghiên cứu dọc với quy mô mẫu lớn hơn để kiểm chứng giá trị tiên lượng và đưa OCTA trở thành công cụ lâm sàng khả thi trong phát hiện sớm cũng như theo dõi tiến triển suy giảm nhận thức”).
Nhóm nghiên cứu giải thích rằng “the retina offers a unique window into neurodegenerative pathology,” as “it shares structural, metabolic, and microvascular features with the brain.” (tạm dịch: “võng mạc mang lại một cửa sổ quan sát độc đáo vào cơ chế thoái hóa thần kinh,” bởi vì “cơ quan này có nhiều nét tương đồng với não bộ về mặt cấu trúc, chuyển hóa cũng như đặc điểm vi mạch”).
Trên cơ sở đó, các tác giả ứng dụng công nghệ OCTA nguồn quét (swept-source OCTA) cùng các thuật toán đã chuẩn hóa nhằm đánh giá 10 chỉ dấu sinh học tại võng mạc, màng mạch và mao mạch màng mạch trên 25 bệnh nhân sa sút trí tuệ Alzheimer, 29 trường hợp suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) và 48 đối chứng có chức năng nhận thức bình thường.
Độ tuổi trung bình của nhóm tham gia là khoảng 75 tuổi, với thời gian học vấn trung bình xấp xỉ 18 năm. Về tiền sử, 38% đang hút thuốc hoặc từng hút thuốc, 41% mắc tăng huyết áp và 4% từng có biến cố đột quỵ.
Tỷ lệ nữ giới ở nhóm sa sút trí tuệ Alzheimer và nhóm MCI thấp hơn so với nhóm chứng (lần lượt là 40,0% và 20,7% so với 69,4%). Người bệnh sa sút trí tuệ Alzheimer có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao hơn so với người MCI và nhóm chứng (20,0% so với 6,9% và 2,0%), dù không ghi nhận trường hợp nào mắc bệnh võng mạc đái tháo đường.
Kết quả phân tích võng mạc qua OCTA cho thấy độ dày phức hợp tế bào hạch (GCC) và lớp sợi thần kinh võng mạc đều có xu hướng giảm dần theo từng mức độ suy giảm nhận thức. Tuy nhiên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê chỉ xuất hiện ở chỉ số GCC: nhóm sa sút trí tuệ Alzheimer mỏng hơn đáng kể so với nhóm chứng, với bề dày trung bình 63,31 μm so với 67,93 μm (giảm tương đương 4,62 µm). Các thông số võng mạc khác không có sự khác biệt rõ rệt, dù có xu hướng giảm dần tưới máu võng mạc, mật độ diện tích mạch và mật độ khung mạch (VSD) theo các giai đoạn suy giảm nhận thức.
Đối với các đo đạc tại màng mạch và mao mạch màng mạch, khiếm khuyết dòng chảy mao mạch màng mạch (CCFD) ở bệnh nhân sa sút trí tuệ Alzheimer tăng cao có ý nghĩa thống kê so với nhóm MCI và nhóm chứng (lần lượt là 9,07% so với 8,12% và 8,33%, tương ứng với mức tăng trung bình 0,95 và 0,74 điểm phần trăm).
Nhóm tác giả lý giải rằng sự biến thiên theo “nonlinear trajectory” (tạm dịch: “quỹ đạo phi tuyến tính”) của chỉ số CCFD giữa các giai đoạn nhận thức phản ánh “an early compensatory vasodilatory response in MCI that transitions into prefusion failure and vascular rarefaction as AD progresses.” (tạm dịch: “phản ứng bù trừ giãn mạch ở giai đoạn MCI sớm, sau đó chuyển sang suy giảm tưới máu và thưa hóa vi mạch khi bệnh Alzheimer tiến triển nặng hơn”).
Phân tích đa biến ghi nhận VSD và CCFD là hai yếu tố liên quan chặt chẽ nhất với suy giảm nhận thức. Đối với sa sút trí tuệ Alzheimer, mỗi 1 điểm phần trăm suy giảm VSD liên quan đến tỷ số chênh (OR) là 0,66; trong khi mỗi 1 điểm phần trăm gia tăng CCFD làm tăng nguy cơ mắc bệnh với OR là 1,50.
Ở nhóm MCI, mỗi 1 điểm phần trăm suy giảm VSD có OR là 0,79, còn mỗi 1 điểm phần trăm giảm CCFD lại liên quan đến OR là 0,66. Tình trạng mỏng dần của GCC cũng có xu hướng làm tăng nguy cơ ở cả hai nhóm MCI và sa sút trí tuệ Alzheimer, dù chưa đạt ý nghĩa thống kê.
Phân tích đường cong đặc trưng hoạt động của bộ thu (ROC) trên tập kiểm định gồm 5 bệnh nhân sa sút trí tuệ Alzheimer, 6 bệnh nhân MCI và 10 đối chứng cho thấy diện tích dưới đường cong (AUC) được cải thiện rõ rệt khi tích hợp mô hình phối hợp VSD, CCFD và GCC so với mô hình chỉ dựa vào các đồng biến số nền: tăng từ 82% lên 87% khi phân biệt MCI với nhóm chứng, và từ 48% lên 72% khi phân biệt sa sút trí tuệ Alzheimer với MCI.
Nhóm nghiên cứu cũng thẳng thắn thừa nhận hạn chế về cỡ mẫu còn “modest” (tạm dịch: “khiêm tốn”), nhất là trong phân tích AUC, đồng thời nhấn mạnh rằng “larger cohort studies are needed to validate performance and increase statistical power.” (tạm dịch: “cần triển khai các nghiên cứu đoàn hệ lớn hơn nhằm kiểm chứng độ chính xác và củng cố độ mạnh thống kê”). Ngoài ra, “longitudinal follow-up is needed to establish whether these alterations precede, accompany, or follow cognitive decline.” (tạm dịch: “cần có các theo dõi dọc để làm rõ liệu những biến đổi vi mạch này xuất hiện trước, đồng hành hay là hệ quả của quá trình suy giảm nhận thức”).