Công trình phân tích chuyên sâu nhằm ước tính tỷ lệ mới mắc theo giới tính và mức thu nhập quốc gia này đã nhấn mạnh “the need for targeted equitable prevention strategies and expanded diagnostic and care capacity, particularly for women and in underresourced settings” (tạm dịch: “nhu cầu xây dựng các chiến lược phòng ngừa công bằng, có mục tiêu rõ rệt, đồng thời mở rộng năng lực chẩn đoán và chăm sóc, đặc biệt dành cho phụ nữ và các khu vực thiếu thốn nguồn lực”), theo báo cáo của TS. Ashleigh Vella (Đại học New South Wales, Sydney, Australia) cùng các cộng sự trên tạp chí JAMA Neurology.

Nghiên cứu phân tích gộp dựa trên dữ liệu cá thể của 38.418 người tham gia (từ 60 tuổi trở lên; 58% là nữ giới) trích xuất từ 22 nghiên cứu dọc tại cộng đồng trên phạm vi 18 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm 6 quốc gia thu nhập thấp – trung bình và 12 quốc gia thu nhập cao.

Các tác giả ghi nhận trong tổng số 287.632 người–năm theo dõi nguy cơ giai đoạn 1990 – 2021, có 3.001 đối tượng tiến triển thành sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân. Sau khi chuẩn hóa số ca bệnh theo cấu trúc dân số theo tuổi và giới tính toàn cầu năm 2023, tỷ lệ mới mắc chuẩn hóa tương ứng là 9,7 ca trên 1.000 người–năm nguy cơ.

Nhóm nghiên cứu của TS. Vella cho biết, nếu giả định tỷ lệ mới mắc theo nhóm tuổi và giới tính duy trì ổn định theo thời gian, con số này tương đương khoảng 11,4 triệu ca sa sút trí tuệ mới mắc do mọi nguyên nhân trên phạm vi toàn cầu trong năm 2023.

Đáng chú ý, tỷ lệ mới mắc chuẩn hóa theo tuổi ở nữ giới cao hơn rõ rệt so với nam giới (10,6 so với 8,6 ca trên 1.000 người–năm). Tương tự, tỷ lệ này ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình cũng vượt trội đáng kể so với các nước có thu nhập cao (13,6 so với 8,3 ca trên 1.000 người–năm).

Nhóm tác giả nhận định: “This pattern suggests that low- and middle-income countries may face particularly high future diagnostic and care demand as population aging accelerates” (tạm dịch: “Mô hình này cho thấy các quốc gia thu nhập thấp và trung bình có thể sẽ phải đối mặt với áp lực rất lớn về nhu cầu chẩn đoán và chăm sóc y tế trong tương lai khi tốc độ già hóa dân số diễn ra ngày một nhanh”).

Dù vậy, các nhà nghiên cứu cũng “caution against generalizing dementia incidence from 1 low- and middle-income country to another” (tạm dịch: “cảnh báo về việc quy nạp hay áp đặt tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ từ một quốc gia thu nhập thấp và trung bình này sang quốc gia khác”). Thay vào đó, họ khuyến cáo: “policies should be guided by country-specific estimates where available, and sustained investment by funders and governments would be essential to direct resources to settings most in need” (tạm dịch: “các chính sách y tế cần được định hướng dựa trên số liệu ước tính cụ thể của từng quốc gia khi có thể, đồng thời sự đầu tư bền vững từ các nhà tài trợ và chính phủ đóng vai trò then chốt để tập trung nguồn lực tới những nơi có nhu cầu cấp bách nhất”).

Khi áp dụng tỷ lệ mới mắc đã chuẩn hóa vào mô hình cơ cấu dân số toàn cầu dự kiến năm 2050, tỷ lệ mới mắc sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân ước tính đạt 11,7 trên 1.000 người–năm nguy cơ, tương đương 24,7 triệu ca mắc mới mỗi năm trên toàn thế giới.

TS. Vella và các cộng sự lưu ý thêm rằng các dự báo này “should be interpreted as planning benchmarks under a simplifying assumption of stable age-sex–specific hazards over time; they therefore reflect demographic aging rather than secular changes in underlying risk (eg, education, vascular risk trends, survival with dementia, or diagnostic practices)” (tạm dịch: “cần được hiểu là các mốc chuẩn để hoạch định chính sách dựa trên giả định đơn giản hóa rằng tỷ lệ rủi ro theo độ tuổi và giới tính ổn định theo thời gian; do đó số liệu này phản ánh tình trạng già hóa dân số hơn là những thay đổi theo thời gian về các yếu tố nguy cơ nền tảng như trình độ học vấn, xu hướng nguy cơ bệnh lý mạch máu, thời gian sống thêm của bệnh nhân sa sút trí tuệ hay các thực hành chẩn đoán lâm sàng”).

Các tác giả bổ sung: “Even under this assumption, the projected growth in new cases underscores the expansion needed for prevention and diagnostic capacity” (tạm dịch: “Ngay cả theo giả định này, mức tăng dự kiến về số ca mắc mới vẫn nêu bật tính cấp thiết của việc mở rộng năng lực chẩn đoán và can thiệp dự phòng”).

Nhóm nghiên cứu kết luận rằng các phát hiện của họ “provide a comparable benchmark for global dementia incidence and inform planning for prevention, diagnosis, and memory-care services, particularly in underrepresented low- and middle-income country settings” (tạm dịch: “cung cấp một mốc tham chiếu có thể so sánh được về tỷ lệ mới mắc sa sút trí tuệ toàn cầu, đồng thời hỗ trợ xây dựng kế hoạch dự phòng, chẩn đoán và cung cấp các dịch vụ chăm sóc trí nhớ, đặc biệt là tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình vốn chưa được ghi nhận đầy đủ”).