Bác sĩ John Pauling từ North Bristol NHS Trust cùng các cộng sự nhấn mạnh: “Work is needed to establish the mechanism of arterial/venous thrombotic events in SSc” (tạm dịch: “Cần nghiên cứu thêm để làm rõ cơ chế dẫn đến các biến cố huyết khối động mạch và tĩnh mạch trong xơ cứng bì hệ thống”), đồng thời cho rằng: “Such insight will facilitate more targeted and effective preventative strategies and improve outcomes in SSc” (tạm dịch: “Những hiểu biết sâu sắc này sẽ tạo tiền đề xây dựng các chiến lược dự phòng trúng đích, hiệu quả hơn nhằm cải thiện tiên lượng cho người bệnh xơ cứng bì hệ thống”).
Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu chăm sóc ban đầu từ Cơ sở dữ liệu Nghiên cứu Thực hành Lâm sàng (CPRD) – một hệ thống dữ liệu lớn bao phủ 11,3 triệu bệnh nhân tại Anh, trong đó có 4,4 triệu người đang được quản lý. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm các cá nhân từ 18 tuổi trở lên, đăng ký cố định tại một phòng khám đa khoa và có dữ liệu theo dõi tối thiểu 12 tháng trong giai đoạn 1998–2017.
Nghiên cứu tập trung đánh giá 877 trường hợp mới chẩn đoán SSc, được bắt cặp với 5.262 đối chứng không mắc bệnh dựa trên các tiêu chí: tuổi, giới tính, địa bàn phòng khám, thời điểm ghi nhận và tình trạng đái tháo đường. Đa số đối tượng nghiên cứu là nữ giới (83,7%), với độ tuổi trung vị tại thời điểm phát hiện SSc là 58 tuổi.
Tại thời điểm ban đầu, tỷ lệ hiện mắc ở nhóm SSc cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng đối với bệnh mạch vành (CAD; 4,2% so với 2,4%), bệnh động mạch ngoại biên (PAD; 3,5% so với 1,2%) và thuyên tắc phổi (PE; 1,9% so với 0,6%). Ngược lại, tỷ lệ lưu hành bệnh mạch máu não tương đương giữa hai nhóm.
Trong thời gian theo dõi trung bình 7,8 năm ở nhóm SSc và 8,2 năm ở nhóm chứng, bệnh nhân SSc có tần suất xuất hiện các biến cố tim mạch và thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch gia tăng có ý nghĩa thống kê. Cụ thể, tỷ lệ mới mắc CAD là 55,1 so với 32,3 trên 10.000 người–năm, tương đương tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh (adjusted HR) là 1,86 sau khi đã kiểm soát nhiều yếu tố gây nhiễu như BMI, thói quen hút thuốc lá, tiền sử điều trị tăng huyết áp và tăng cholesterol máu. Đáng chú ý, nguy cơ này chỉ tăng rõ ở nam giới (HR = 3,56) mà không ghi nhận ý nghĩa thống kê ở nữ giới.
Nguy cơ mắc PAD cũng gia tăng đáng kể, với tỷ lệ mới mắc đạt 43,0 trên 10.000 người–năm ở nhóm SSc so với 19,1 trên 10.000 người–năm ở nhóm đối chứng (HR hiệu chỉnh = 2,37). Xu hướng này một lần nữa chỉ ghi nhận sự gia tăng có ý nghĩa lâm sàng ở nam giới (HR = 4,28) chứ không xuất hiện ở nữ giới mắc SSc.
So với nhóm đối chứng, bệnh nhân SSc có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới cao gần gấp đôi (HR hiệu chỉnh = 1,84) và nguy cơ thuyên tắc phổi tăng gấp ba lần (HR hiệu chỉnh = 3,01). Tỷ lệ mới mắc tương ứng cho các biến cố này là 33,4 so với 16,6 trên 10.000 người–năm, và 28,1 so với 10,6 trên 10.000 người–năm.
Khi phân tầng theo giới, nữ giới ghi nhận nguy cơ thuyên tắc phổi tăng có ý nghĩa (HR hiệu chỉnh = 2,33), song không thấy sự khác biệt về nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu. Ở nam giới, số lượng biến cố PE và huyết khối tĩnh mạch sâu quá thấp nên chưa đủ độ tin cậy để xác định HR hiệu chỉnh.
Các nhà nghiên cứu nhận định: “The reasons for the sex difference in rates of arterial cardiovascular events observed in this study are unclear” (tạm dịch: “Hiện vẫn chưa rõ nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt theo giới về tỷ lệ biến cố tim mạch do xơ vữa động mạch được ghi nhận trong nghiên cứu này”).
Pauling và cộng sự cũng chỉ ra một số hạn chế nhất định của đề tài, bao gồm “the lack of specific SSc-related data, including disease subset, autoantibody status, disease activity and medication usage for over-the-counter and hospital-prescribed drugs, including corticosteroids” (tạm dịch: “sự thiếu hụt dữ liệu chuyên biệt liên quan đến SSc, chẳng hạn như thể lâm sàng, tình trạng tự kháng thể, mức độ hoạt động bệnh và thông tin dùng thuốc không kê đơn cũng như thuốc kê đơn nội viện, bao gồm cả corticosteroid”). Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cho biết thêm: “the relatively short period of follow-up (mean 8 years) also precludes robust assessment of cardiovascular risk throughout the life-course of the disease” (tạm dịch: “Thời gian theo dõi tương đối ngắn trung bình 8 năm cũng hạn chế khả năng đánh giá toàn diện nguy cơ tim mạch trong suốt tiến trình tự nhiên của bệnh”).
Các tác giả cho rằng do “uncertainty around mechanisms of cardiovascular and VTE events in SSc” (tạm dịch: “những điểm còn chưa sáng tỏ về cơ chế bệnh sinh của các biến cố tim mạch và thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trong SSc”), giới chuyên môn vẫn cần thêm dữ liệu chứng cứ “before recommendations for pharmacological primary prevention of cardiovascular disease in SSc” (tạm dịch: “trước khi đưa ra các khuyến cáo dùng thuốc để dự phòng tiên phát bệnh tim mạch trên bệnh nhân SSc”).
Dẫu vậy, các phát hiện này “strengthen the case for more aggressive primary prevention of CAD and risk factor modification in SSc” (tạm dịch: “củng cố cơ sở cho việc tăng cường can thiệp dự phòng tiên phát bệnh mạch vành và điều chỉnh tích cực các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân SSc”).
Điển hình, Pauling và nhóm cộng sự khuyến cáo: “modifiable lifestyle risk factors that are known to reduce risk of future events should be aggressively targeted including increasing healthy lifestyle behaviours, smoking cessation, obesity management and enhancing cardiorespiratory fitness” (tạm dịch: “Cần can thiệp quyết liệt vào các yếu tố nguy cơ lối sống có thể thay đổi nhằm giảm thiểu biến cố trong tương lai, bao gồm xây dựng lối sống lành mạnh, cai thuốc lá, kiểm soát béo phì và tăng cường thể lực tim mạch – hô hấp”).
Nhóm nghiên cứu cũng khuyến nghị rằng “increased risk of venous thrombosis should be considered during periods of immobility (hospitalisation, post-operative, long-haul flights) where preventative measures can be rigorously adopted to reduce risk” (tạm dịch: “cần đặc biệt lưu ý nguy cơ huyết khối tĩnh mạch gia tăng trong các giai đoạn bất động nhập viện, sau phẫu thuật, các chuyến bay đường dài để áp dụng chặt chẽ các biện pháp dự phòng nhằm giảm thiểu rủi ro”).