TÓM TẮT
Biến chứng liên quan đến dây điện cực
- Các vấn đề liên quan đến dây điện cực bao gồm nhiễm trùng, lỗi dây điện cực (dẫn đến mất khả năng tạo nhịp, mất khả năng sốc điện hoặc sốc điện không phù hợp), hở van ba lá, huyết khối tĩnh mạch, kẹt dây điện cực và tăng ngưỡng khử rung.
Nhiễm trùng
Nhiễm trùng túi máy tạo nhịp hoặc dây điện cực có thể xảy ra tại thời điểm cấy ghép thiết bị điện tử tim mạch (CIED) hoặc tại bất kỳ thời điểm nào sau đó. Vì nhiễm trùng CIED có thể đe dọa tính mạng, việc khuyến cáo mạnh mẽ cho hầu hết bệnh nhân là cần phải rút toàn bộ máy tạo nhịp và tất cả các dây điện cực, đồng thời phối hợp điều trị kháng sinh. (Xem ‘Nhiễm trùng’ ở dưới và “Nhiễm trùng liên quan đến thiết bị điện tử tim mạch cấy ghép: Dịch tễ học, vi sinh vật học, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán” và “Rút dây điện cực thiết bị điện tử tim mạch cấy ghép”.)
Lỗi dây điện cực
Tần suất lỗi dây điện cực thay đổi rất lớn tùy theo từng loại dây và thường được chẩn đoán khi bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng liên quan đến dây điện cực lỗi (ví dụ: sốc điện không phù hợp từ máy phá rung cấy ghép [ICD], chóng mặt hoặc ngất do mất khả năng tạo nhịp, v.v.) khi tiến hành kiểm tra các thông số của thiết bị. Khi xác định có lỗi cơ học ở dây điện cực, chỉ định thay dây điện cực là cần thiết. (Xem ‘Lỗi dây điện cực’ ở dưới.)
Hở van ba lá mức độ nặng
Tình trạng này có thể do việc đặt dây điện cực CIED gây tổn thương van ba lá hoặc cản trở sự đóng van thích hợp trong thì tâm thu. (Xem ‘Hở van ba lá’ ở dưới.)
Tăng ngưỡng
Các giá trị ngưỡng an toàn để tạo nhịp và khử rung có thể tăng dần theo thời gian. Nguyên nhân gây tăng cả ngưỡng tạo nhịp và ngưỡng khử rung bao gồm: di lệch hoặc vi di lệch dây điện cực, block thoát do viêm, tổn thương hoặc nhồi máu gần đầu dây điện cực, tác động của một số loại thuốc, lỗi dây điện cực, hoặc sự tiến triển của rối loạn chức năng và giãn thất trái. (Xem ‘Tăng ngưỡng khử rung’ ở dưới.)
Biến chứng liên quan đến máy tạo nhịp
Các biến chứng lâu dài liên quan đến máy tạo nhịp CIED tương đối hiếm gặp, xảy ra ở ít hơn 2% bệnh nhân, bao gồm loét/nhiễm trùng da, di lệch thiết bị và/hoặc dây điện cực, hoại tử mô (do kích thước và trọng lượng của máy) và nhiễu/hư hỏng điện cơ. (Xem ‘Biến chứng máy tạo nhịp’ ở dưới và “Tương tác của thiết bị điện tử tim mạch cấy ghép với điện từ trường trong môi trường ngoài bệnh viện”, phần ‘Thiết bị có nam châm cường độ cao’”.)
Biến chứng loạn nhịp
Nhiều vấn đề liên quan đến loạn nhịp có thể xảy ra ở bệnh nhân đặt ICD. Các biến chứng loạn nhịp bao gồm cả sốc điện không phù hợp (thường do điều trị các cơn nhịp nhanh trên thất) cũng như các cú sốc điện phù hợp và “sốc ảo” (phantom shocks).
Sốc điện không phù hợp
Các cú sốc điện do ICD thực hiện vì bất kỳ lý do nào khác ngoài nhịp nhanh thất xảy ra ở tối đa 40% bệnh nhân đặt ICD. Tần suất sốc điện không phù hợp không liên quan đến lỗi dây điện cực (tức là các cú sốc liên quan đến nhịp nhanh trên thất [SVT]) thường có thể giảm bớt bằng các chiến lược lập trình ICD hiện đại. (Xem ‘Sốc điện không phù hợp’ ở dưới.)
Sốc điện ICD phù hợp
Các cú sốc điện được thực hiện để điều trị nhịp nhanh thất về mặt kỹ thuật không phải là một biến chứng mà là phản ứng dự kiến của thiết bị. Mặc dù có tiềm năng cứu sống bệnh nhân, các cú sốc phù hợp cũng có thể gây tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống, bao gồm các vấn đề về tâm lý và hạn chế khả năng lái xe. (Xem ‘Sốc điện phù hợp’ ở dưới.)
Bệnh cơ tim do tạo nhịp
Rối loạn chức năng tâm thu thất trái và/hoặc thất phải có thể khởi phát hoặc trầm trọng hơn do tình trạng tạo nhịp thất phải thường xuyên (ví dụ: >40%). (Xem ‘Suy tim’ ở dưới.)
Sốc ảo
Cảm giác như vừa nhận được một cú sốc điện từ ICD mặc dù thực tế không có cú sốc nào xảy ra được gọi là “sốc ảo”. Chiến lược tối ưu để quản lý sốc ảo tùy thuộc vào từng bệnh nhân, nhưng thông thường bao gồm việc theo dõi sát sao và trấn an bệnh nhân. (Xem ‘Sốc ảo’ ở dưới.)
