TÓM TẮT
Định nghĩa
- Loại bỏ dây điện cực là một thuật ngữ chung bao gồm việc lấy bỏ dây điện cực của thiết bị điện tim cấy ghép (CIED) bằng bất kỳ kỹ thuật nào, trong khi phẫu thuật lấy bỏ (explantation) và lấy dây điện cực (extraction) là các thuật ngữ có định nghĩa cụ thể hơn. (Xem ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Chỉ định
- Các chỉ định phổ biến nhất để loại bỏ dây điện cực bao gồm nhiễm trùng, tắc nghẽn tĩnh mạch, lỗi cơ học của dây điện cực (thường dẫn đến chức năng máy tạo nhịp không chính xác hoặc các cú sốc từ máy phá rung tim cấy ghép [ICD] không phù hợp), hoặc theo khuyến cáo/thu hồi do (nguy cơ) lỗi chức năng dây điện cực. Do tính chất phức tạp của các trường hợp này, các khuyến nghị về lấy dây điện cực (lead extraction) chỉ áp dụng cho những bệnh nhân có lợi ích vượt trội hơn rủi ro khi đánh giá dựa trên các yếu tố cá thể của bệnh nhân cũng như kinh nghiệm và kết quả thực hiện của người vận hành. (Xem ‘Chỉ định’ ở dưới.)
Chống chỉ định
- Các chống chỉ định tương đối đối với loại bỏ dây điện cực qua da đường tĩnh mạch bao gồm: thiếu nhân sự hoặc trang thiết bị cần thiết, bệnh nhân không đủ điều kiện phẫu thuật mở ngực cấp cứu, hoặc vị trí đặt dây điện cực bất thường. (Xem ‘Chống chỉ định’ ở dưới.)
Quy trình loại bỏ dây điện cực
- Việc loại bỏ dây điện cực thường đòi hỏi quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng. Cần nắm rõ các bệnh lý đồng mắc của bệnh nhân, tiền sử can thiệp/phẫu thuật trước đó (ví dụ: tiền sử phẫu thuật tim hoặc có đặt lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới), và các đặc tính của dây điện cực như chiều dài, đường kính và thông tin về bộ nối (adapter). Cần đánh giá nhu cầu hỗ trợ máy tạo nhịp (ví dụ: ở bệnh nhân phụ thuộc máy tạo nhịp) và liệu pháp thiết bị đang duy trì. Do nguy cơ tổn thương nội mạch, quy trình lấy dây điện cực nên được thực hiện với sự sẵn sàng hỗ trợ từ đội ngũ phẫu thuật tim mạch. (Xem ‘Quy trình loại bỏ dây điện cực’ ở dưới.)
Nâng cấp và để lại dây điện cực
- Trong một số trường hợp, các dây điện cực đã đặt trước đó có thể được bít đầu và để lại trong quá trình nâng cấp CIED. Tuy nhiên, các dây điện cực để lại có nguy cơ gây nhiễu cho việc đặt hoặc hoạt động của một CIED khác và có thể cần phải được loại bỏ. Nếu không có chống chỉ định, chúng tôi đề xuất loại bỏ các dây điện cực để lại tại thời điểm thực hiện thủ thuật nâng cấp CIED được chỉ định nếu việc đặt thiết bị mới dẫn đến có nhiều hơn bốn dây điện cực ở một bên hoặc nhiều hơn năm dây điện cực đi qua tĩnh mạch chủ trên (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Nâng cấp và để lại dây điện cực’ ở dưới.)
Các kỹ thuật
- Có nhiều kỹ thuật và trang thiết bị khác nhau được sử dụng để loại bỏ dây điện cực, bao gồm kéo trực tiếp (bằng tay), stylet khóa (locking stylets), ống sheath cơ học không dùng điện, ống sheath dùng laser excimer, ống sheath có lưỡi cắt xoay và vòng bắt (snares) nội mạch. (Xem ‘Các kỹ thuật’ ở dưới.)
Tỷ lệ thành công và biến chứng
- Tỷ lệ thành công của việc loại bỏ dây điện cực rất khác nhau và thường được báo cáo dưới dạng loại bỏ hoàn toàn so với loại bỏ một phần. Các nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân lớn đã trải qua thủ thuật lấy dây điện cực cho thấy tỷ lệ thành công cao (95% đến 99%). Hầu hết các biến chứng là do chấn thương và liên quan đến chính dây điện cực (ví dụ: tổn thương mạch máu, thủng tim dẫn đến chèn ép tim cấp, hở van ba lá), mặc dù nguy cơ thuyên tắc huyết khối hoặc sùi từ dây điện cực cũng là một vấn đề cần lưu ý. Khi được thực hiện bởi các bác sĩ giàu kinh nghiệm, tỷ lệ tử vong thường dưới 1% bệnh nhân, với các biến chứng lớn xảy ra ở khoảng 2% đến 4% bệnh nhân. (Xem ‘Kết quả’ và ‘Biến chứng’ ở dưới.)
